vanban.org

Bản án 122/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Phạm Minh A được ly hôn bà Nguyễn Thị B.

Về con chung: Giao cháu Phạm Gia K, sinh ngày 22/9/2013 cho bà Nguyễn Thị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Minh A cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ hằng tháng cho cháu Phạm Gia K là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Ông Phạm Minh A có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình giữa nguyên đơn ông Phạm Minh A và bị đơn bà Nguyễn Thị B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Phạm Minh A được ly hôn bà Nguyễn Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19-12-2018
Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Khanh.

2. Bà Trịnh Thị Mai Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 493/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2018, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Minh A, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số 1/3, Tổ A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. “Có đơn xin vắng mặt”

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Số 1/3, Tổ A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Minh A trình bày:

Về hôn nhân: Ông Phạm Minh A và bà Nguyễn Thị B quyen biết nhau năm 2012, qua một thời gian tìm hiểu hai người đã tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình đồng ý, có tổ chức lễ cưới tại xã Phước Tân, huyện D và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 24/12/2012. Thời gian đầu sống chung rất hạnh phúc và có 01 con chung là Phạm Gia K, sinh ngày 22/9/2013. Đến khoảng tháng 4/2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vì bà B thường đi làm tối mới về, không chăm lo cho gia đình. Mặc dù sống chung nhà nhưng giữa ông A và bà B ít có thời gian gặp nhau để cùng chăm sóc cho gia đình và ông A nhận thấy cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp, dần dần trở nên bế tắc. Ông A đã khuyên nhủ bà B nhiều lần nhưng bà B không nghe và không muốn dành thời gian cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay ông A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và để ổn định cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyến cho ông A được ly hôn bà B.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Phạm Minh A và bà Nguyễn Thị B có 01 con chung là Phạm Gia K, sinh ngày 22/9/2013, hiện nay đang sống với bà B. Khi ly hôn ông A nhường quyền trực tiếp nuôi con chung cho bà B và ông A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị B vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 493/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2018 và các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kèm theo giấy triệu tập bà B đến Tòa án làm việc, nhưng bà B đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Đối với các đương sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng và vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa nên xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Phạm Minh A được ly hôn bà Nguyễn Thị B. Giao cháu Phạm Gia K cho bà Nguyễn Thị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và ông Phạm Minh A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Tòa án nhân dân huyện D nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp:

Xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1990 có nơi cư trú tại xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về việc vắng mặt của đương sự: Ngày 30/11/2018, nguyên đơn ông Phạm Minh A có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 30/11/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai ngày 19/12/2018, bà Nguyễn Thị B vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Minh A và bà Nguyễn Thị B theo luật định.

. Về hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 192/2012, quyển số 01-2012, ngày 24/12/2012 của Ủy ban nhân dân xã Phước Tân, huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xác định hôn nhân giữa ông Phạm Minh A và bà Nguyễn Thị B là hợp pháp. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng, tôn trọng nhau dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Nay ông A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà B. Xét thấy hôn nhân của ông A và bà B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông A được ly hôn bà B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

. Về con chung: Xét thấy hiện nay cháu Phạm Gia K, sinh ngày 22/9/2013 đang sống với bà B và ông A không yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung nên giao cháu K cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị B không tham gia tố tụng tại Tòa án và không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án thể hiện yêu cầu ông Phạm Minh A phải cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên ông A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Phạm Gia K mỗi tháng 3.000.000 đồng. Xét thấy sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông A là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tài sản và nợ chung: Ông Phạm Minh A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì ông Phạm Minh A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Ông Phạm Minh A được ly hôn bà Nguyễn Thị B.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Gia K, sinh ngày 22/9/2013 cho bà Nguyễn Thị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Minh A cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ hằng tháng cho cháu Phạm Gia K là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Ông Phạm Minh A có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Ông Phạm Minh A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003005 ngày 26 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông Phạm Minh A còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ