vanban.org

Bản án 122/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị L và ông Phan Huyền A.

Về nuôi con chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L và Phan Huyền A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị L và ông Phan Huyền A.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2018
“V/v tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Duy Hừng 2. Ông Trần Trung Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Âu Thị Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà. Ngày 14 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2018 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lan

sinh năm: 1971 Địa chỉ: tổ X, ấp Y, xã A, huyện B, tỉnh Tiền Giang 2. Bị đơn: Ông Phan Huyền A (tên thường gọi là H)

sinh năm: 1968 Địa chỉ: tổ X, ấp Y, xã A, huyện B, tỉnh Tiền Giang

(bà L có mặt, ông A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 22 tháng 02 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn là bà Trần Thị L trình bày: Bà và ông Phan Huyền A tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 1992, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng bà sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông A có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên bà và ông A không còn chung sống với nhau từ thời gian đó đến nay, không có hàn gắn tình cảm. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông A nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: bà và ông A có 01 con chung tên Phan Anh T, sinh năm: 1994 đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu gì. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Phan Huyền A đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông A không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Tại phiên tòa bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên, ông A đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông A là phù hợp điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Trần Thị L và ông Phan Huyền A tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 1992 đến ngày 29 tháng 8 năm 2014 được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông A được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên trong quá trình chung sống bà L trình bày vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn là do ông A có quan hệ tình cảm với người khác nên bà và ông A không còn chung sống với nhau từ tháng 8 năm 2017. Còn ông A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông A vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L chứng tỏ ông A không còn quan tâm đến quan hệ vợ chồng, mặt khác bà L và ông A có thời gian dài không chung sống với nhau cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà L ly hôn với ông A là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: bà và ông Anh có 01 con chung tên Phan Anh T, sinh năm: 1994 đã trưởng thành nên bà không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị L và ông Phan Huyền A.

2. Về nuôi con chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 08203 ngày 22 tháng 02 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B; bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bà L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với ông A thời hạn kháng cáo trên được tính kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ