vanban.org

Bản án 122/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Trịnh Hà G đối với ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N.

Buộc ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trịnh Hà G số tiền vốn lãi là 112.408.500đ (Một trăm mười hai triệu, bốn trăm lẽ tám ngàn, năm trăm đồng). 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Trịnh Hà G đối với ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/DS-ST
Ngày: 31-7-2018
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Dân

2. Ông Lê Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh- Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An G

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh –Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,tỉnh An G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2017/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2018/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2018/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. N đơn: Bà Trịnh Thị G, sinh năm 1982 (Có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 4, ấp H 4, TT A, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Bà Lâm Thị Tố N, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 09, ấp P 2, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 18/12/2017 và trong quá trình tố tụng N đơn bà Trịnh Hà G tham gia tố tụng trình bày:

Giữa bà với vợ chồng ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N xác lập hợp đồng vay tiền với nhau cụ thể: Vay số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Khi vay, bà N có viết cho bà một biên nhận nợ ngày 12 tháng 8 Âl, nội dung thể hiện có hỏi mượn bà số tiền trên. Biên nhận nợ do ông T, bà N cùng ký tên ghi họ tên. Trong biên nhận nợ hai bên không có thỏa thuận thời gian trả nợ và lãi suất, nhưng có thỏa thuận miệng với nhau sau 01 tuần sẽ trả nợ. Từ khi vay tiền cho đến nay, ông T, bà N không đóng lãi và cũng không trả vốn.

Nay bà yêu cầu vợ chồng ông T, bà N cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền vốn là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), bà yêu cầu Tòa án tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày vay tiền 12 tháng 8 năm 2017 Âl đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm .

Bị đơn ông Nguyễn Thành T,bà Lâm Thị Tố N: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng, nhưng ông bà không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

- N đơn bà Trịnh Hà G trình bày bổ sung về thời gian vay tiền hai bên thể hiện tại biên nhận nợ cụ thể; biên nhận ngày 12/8 Âl (Tức ngày 01/10/2017 dương lịch) không ghi năm và có ghi thứ bảy. Bà không để ý, biết bà N, ông T ghi số tiền vay và ký tên bà không để ý. Thực chất, hai bên xác lập hợp đồng vay vào năm 2007. Bà yêu cầu ông T, bà N trả số tiền lãi tính từ ngày ông bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ là sau 01 tuần tức ngày 09/10/2017 dương lịch đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cộng số tiền vốn là 100.000.000đ (Một trăm trệu đồng). Lãi suất hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau, bà không nhớ rõ là 5 hay 6%/tháng. Nhưng từ khi vay cho đến nay bà không nhận tiền lãi từ ông T, bà N

- Bị đơn ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N vắng mặt không tham gia phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị hướng giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Trịnh Hà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông ông T, bà N có nơi cư trú tại ấp P II, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

1.2 Về xác định mối quan hệ giữa ông T, bà N: Tòa án có văn bản gửi Tư pháp xã B, huyện C, tỉnh An G để trích lục bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa ông T, bà N thể hiện ông T và bà N có mối quan hệ vợ chồng được thể hiện qua trích lục số 161/TLKH-BS ngày 22/02/2018 của UBND xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An G: Ông T, bà N có đăng ký kết hôn tại số 79 ngày 25/7/2005. Hôn nhân giữa ông T, bà N được xác lập vào năm 2005 ,việc đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và cũng phù hợp với Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015, do đó quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà N là quan hệ hôn nhân hợp pháp

1.4 Về sự có mặt của đương sự tại nơi cư trú: Căn cứ vào các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án gồm: Biên bản xác minh nơi cư trú đương sự ngày 09/02/2018 tại Công an xã B, huyện C, An Giang thể hiện các đương sự ông T, bà N vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp P II, xã B, huyện C, An Giang; Hiện không có mặt tại địa phương khoảng 02 tháng nay; Ông T, bà N thay đổi nơi cư trú, nhưng không trình báo cho chính quyền địa phương và phải có nghĩa vụ thông báo cho bà Phụng Loan biết về nơi cư trú mới. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự 2015; Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đây được coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

1.5 Về quyền,nghĩa vụ của bị đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần trong quá trình tố tụng như: phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo đối chất; Đồng thời, Tòa án ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số12/QĐ-CCTLCC ngày 27/3/2018 ông T, bà N không có văn bản trình bày ý kiến; Không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Phiên đối chất và cũng không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Ông T, bà N đã thể hiện sự không tôn trọng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như từ bỏ quyền và không thực hiện các nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70; Điều 72 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra, Tòa án tiến hành một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ trong vụ án như lấy lời khai ông T, bà N vào ngày 09/02/2018, nhưng không tiến hành lấy lời khai được do các đương sự không có mặt vào thời điểm Tòa án tiến hành lấy lời khai.

1.6 Về sự có mặt của đương sự:

Các thủ tục tố tụng của Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 177, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T, bà N đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng đồng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với đồng bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Giữa bà Trịnh Hà G với ông Nguyễn Thành T, bà Lâm Thị Tố N có xác lập hợp đồng vay tài sản. Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện là biên nhận nợ ngày 12 tháng 8 (không thể hiện năm) vay số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), không thỏa thuận thời gian trả nợ và lãi suất. Hai bên có thỏa thuận miệng với nhau sau 01 tuần sẽ tất toán nợ và có thỏa thuận mức lãi suất nhưng N đ7n không nhớ cụ thể. Đồng thời, từ khi hai bên xác lập hợp đồng vay với nhau, phía bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả vốn lãi theo thỏa thuận. Đối với yêu cầu này, HĐXX nhận định mặc dù biên nhận nợ hai bên xác lập thể hiện ngày tháng nhưng không không thể hiện năm (âm lịch) vay tiền; Tại phiên tòa, N đơn trình bày năm 2017 Âl, nghĩa vụ chứng minh là của bị đơn trong vụ án. Phía bị đơn ông T, bà N không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của N đơn, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Hợp đồng vay hai bên xác lập vào ngày 12/8/2017 âm lịch ( ngày 01 tháng 10 năm 2017) xác lập hợp đồng vay tài sản chịu sự điều chỉnh Bộ luật dân sự 2015. Hợp đồng vay tài sản giữa các bên đương sự phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự 2015, ông T và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay; Nên phải có nghĩa vụ trả vốn, lãi theo quy định tại Điều 466,468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể số tiền lãi được tính như sau:

Số tiền vốn 100.000.000đ vay vào ngày 12/8/2017 âm lịch ( ngày 01 tháng 10 năm 2017 dương lịch). Lãi suất tính từ ngày bị đơn vi phạm quyền nghĩa vụ sau ngày làm biên nhận 01 tuần cụ thể lãi suất tính từ ngày 09/10/2017 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm đến ngày 31/7/2018 : 100.000.000đ x0,83%/01 tháng x 1,5 x9 tháng 29 ngày = 12.408.500đ Vốn là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) Tổng công vốn lãi là 112.408.500đ (Một trăm mười hai triệu bốn trăm lẽ tám ngàn năm trăm đồng). Từ những phân tích và nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của bà G là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được HĐXX xem xét chấp nhận. Do đó ông T và bà N phải có trách nhiệm trả cho bà G số tiền vốn lãi là 112.408.500đ (Một trăm mười hai triệu bốn trăm lẽ tám ngàn năm trăm đồng)

Về án phí sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị G được chấp nhận, nên không phải chịu án phí. Bà G được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp được quy định tại Điều144 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015

Ông T, bà N phải có trách nhiệm liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm được quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Khoản 3 Điều 40, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ Lật dân sự

- Điều 27 Luật Hôn nhân Gia đình 2014;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Trịnh Hà G đối với ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N.

Buộc ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trịnh Hà G số tiền vốn lãi là 112.408.500đ (Một trăm mười hai triệu, bốn trăm lẽ tám ngàn, năm trăm đồng).

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có trách nhiệm liên đới phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 5.620.425đ ( Năm triệu sáu trăm hai mươi ngàn bốn trăm hai mươi lăm đồng)

Hoàn trả cho bà Trịnh Hà G số tiền tạm ứng án phí là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003222 ngày 27/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An G.

3. Quyền kháng cáo: Bà Trịnh Hà G có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng ông Nguyễn Thành T và bà Lâm Thị Tố N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết hợp lệ.

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ