vanban.org

Bản án 122/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/05/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh Võ Minh G;

Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của bà Võ Thị M. Sửa một phần bản án d n sự sơ thẩm số 81/2017/DS-ST ngày 27/11/2017 của T a án nh n d n huyện LV t nh Đ ng Tháp về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá tài sản

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "nguyên đơn: Võ Minh G; bị đơn: Võ Thị M"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh Võ Minh G;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng D n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2018/DS-PT
Ngày: 16/5/2018
V/v tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông ê H ng Nước

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Ngọc Giao

Bà Phạm Thị iên Hiệp

- Th

phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi Thư T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp

- Đ i di n Vi n i m át nh n d n t nh Đ ng Tháp: Bà Ph m Thị Thanh H ơng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 06/2018/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 81/2017/DS - ST ngày 27 tháng 11 năm 2017 của T a án nh n d n huyện ấp V bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 94/2018/QĐ – PT ngày 12/3/2018 và Quyết định hoãn phiên t a số 117/2018/QĐ-PT ngày 20/4/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Minh G sinh năm 1972; địa ch : khóm BH, thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp

- Bị đơn: Bà Võ Thị M sinh năm 1941; địa ch : khóm BH thị trấn V, huyện V t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Văn T sinh năm 1984; địa ch : khóm BT thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Ánh T sinh năm 1977;

2. Bà Võ Thị Kim H sinh năm 1960;

Cùng địa ch : khóm BH thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp

3 Bà Nguyễn Thị U, (chết);

Người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị U:

3.1. Bà Võ Thị B sinh năm 1958; địa ch : khóm BT thị trấn V huyện LV t nh Đ ng Tháp;

3.2. Bà Võ Thị Kim H sinh năm 1960; địa ch : khóm BH thị trấn V, huyện V t nh Đ ng Tháp;

3.3. Ông Võ Minh T sinh năm 1963; địa ch : khóm BT thị trấn V, huyện V t nh Đ ng Tháp;

3.4. Ông Võ Văn H sinh năm 1964; địa ch : khóm BH thị trấn V huyện LV t nh Đ ng Tháp;

3.5. Ông Võ Minh V sinh năm 1966; địa ch : Ấp T, xã Ô huyện CP, t nh A;

3.6. Ông Võ Minh Đ sinh năm 1972; địa ch : ấp BL, xã BT, huyện LV, t nh Đ ng Tháp;

3.7. Ông Võ Minh G sinh năm 1972; địa ch : khóm BH thị trấn V, huyện V t nh Đ ng Tháp;

4. Anh Võ Duy H sinh năm 1989;

5. Anh Võ Duy T sinh năm 1987;

6. Bà Nguyễn Thị sinh năm 1965;

7. Ông Võ Minh V sinh năm 1968;

Cùng địa ch : khóm BH thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh H, anh T, bà L, ông V: Anh Nguyễn Văn T sinh năm 1984; địa ch : khóm BT thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp.

Người háng cáo: Anh Võ Minh G là nguyên đơn và bà Võ Thị M là bị đơn trong vụ án.

Có m t: Anh G, anh T chị T; Vắng m t: bà H, bà B, ông T; ông H, ông V, ông Đ).

NỘI D NG V ÁN:

Nguyên đơn anh Võ Minh G trình bày: Ngày 22/7/2013 anh được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất thửa 95 tờ bản đ số 53 diện tích 883 6m2 đất tọa lạc tại khóm BH thị trấn V huyện LV Đ ng Tháp có ngu n gốc do cha anh t ng cho Giáp ranh với đất của anh là thửa đất số 05, tờ bản đ số 53 diện tích 384,1m2 do hộ bà Võ Thị M đứng tên quyền sử dụng đất.

Đối với ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 95 của anh và thửa số 05 của bà M, hoảng năm 2003-2004 cha anh và bà M đã có cắm trụ đá giáp lộ Cái D u để xác định ranh Đ ng thời vào năm 2013 hi anh được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thửa 703 cũ sang bản đ địa chính chính quy thửa số 95 thì bà M cũng đã xác định ranh giữa hai bên.

Năm 2014 bà M x y dựng nhà tường iên cố đã làm mất trụ ranh c p lộ Cái Dâu và lấn chiếm qua thửa đất 95 nên anh hởi iện yêu cầu bà M phải giao trả phần đất lấn chiếm có diện tích đo đạc thực tế 18,6m2 thuộc một phần của thửa đất số 95 tờ bản đ số 53 do anh G đứng tên quyền sử dụng đất.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh chiều ngang cạnh giáp lộ Cái Dâu là 15,9m. Tuy nhiên, theo ết quả đo đạc hiện trạng đất tranh chấp thì chiều ngang phía trước c p lộ Cái Dâu ch c n 15 2m Do đó anh yêu cầu xác định ranh giới thửa số 95 với thửa số 05 của bà M là đường thẳng nối một mốc giáp lộ Cái D u từ vị trí thực tế anh đang sử dụng đo qua đất của bà M 0 7m vị trí mốc M6) éo thẳng cuối đất của bà M vị trí mốc M5) theo sơ đ đo đạc ngày 8/9/2017 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện V.

Trên diện tích đất anh G yêu cầu gia đình bà M giao lại có 1 cây nhãn (theo anh G là do cha anh tr ng hoảng 40 năm) 1 c y vải tự mọc và một phần nhà chính và một phần nhà phụ của bà M, anh G yêu cầu bà M và gia đình di dời nhà trả lại diện tích đất lấn chiếm theo ranh giới mà anh xác định.

Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Võ Thị M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Duy H, anh Võ Duy T, bà Nguyễn Thị L ông Võ Minh V là anh Nguyễn Minh T trình bày:

Ngu n gốc thửa đất số 05 của bà M và thửa số 95 của anh G là của ông bà để lại cho cha mẹ bà M Trong đó một phần cha mẹ bà cất nhà ở phần đất liền ề thì cha mẹ bà cho con gái là Võ Thị B là chị gái của bà M và ông C) diện tích đất hoảng 600m2 cất nhà ở Sau hi bà B chết năm 1978 con trai bà B là ông a Văn Á cho bà Võ Thị M 600m2 đất trên vì nhà ở trước đ y của bà M ở mé sông bị Nhà nước giải tỏa Về phần đất có nhà của cha mẹ bà M, sau khi cha mẹ bà M chết thì anh trai bà M là ông C tiếp tục sử dụng, sau đó ông C cho lại ông G sử dụng hiện nay.

Khi được ông A cho đất, năm 1991 bà M đã đăng

ê hai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 141 tờ bản đ số 5A diện tích 600m2 đến năm 2011 được cấp đổi theo bản đ địa chính chính quy thửa số 05 tờ bản đ số 53 diện tích cấp giấy là 384 1m2.

Giữa đất bà M và đất anh G từ trước đến nay hông có gì để làm ranh ch có con hẽm được sử dụng làm lối đi chung và con hẽm có từ lúc cha mẹ bà M c n sống nên anh G và bà M mỗi người được quyền sử dụng ph n nữa con hẽm mới đúng ranh đất giữa hai bên Bà M xác định phần đất anh G tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của bà M trên đất có một phần căn nhà tường iên cố của bà M đang ở hiện nay một phần nền nhà cũ trước đ y của bà M và các c y tr ng l u năm của gia đình bà M Do đó bà M hông đ ng di dời tài sản để trả phần đất tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế 18,6m2 theo yêu cầu của anh G. Bà M yêu cầu xác định ranh chung giữa quyền sử dụng đất của bà M và anh G là phần diện tích đất nối các mốc M2 đến M3 đến M5 đến M4 về M2 có diện tích 7 9m2 theo sơ đ đo đạc ngày 08/9/2017 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện V hiện tại anh G đang sử dụng.

- Tại bản án d n sự số 81/2017/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2017 của T a án nh n d n huyện LV tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Võ Minh G.

2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 95 do anh Võ Minh G đứng tên quyền sử dụng với thửa đất số 05 do hộ bà Võ Thị M đứng tên quyền sử dụng là:

+ Mốc M2: Cách góc nhà sau của anh Võ Minh G một cạnh có chiều dài 17 8m và cách góc nhà chính của bà Võ Thị M một cạnh có chiều dài 16 45m

+ Mốc M4: Cách góc nhà chính của bà Võ Thị M một cạnh có chiều dài 1,57m.

+ Mốc M5: à trụ đá có sẵn trên đất là trụ đá được anh G và bà M thống nhất ranh đất) cách góc nhà sau của anh Võ Minh G có chiều dài 6m.

Nối mốc M2 đến mốc M4 đến mốc M5 thành các đường thẳng có chiều dài 44,14m sẽ là ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 95 và thửa đất số 5 đất tọa lạc tại hóm BH thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2015 và sơ đ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp èm theo)

Ranh giới quyền sử dụng đất đã được xác định nên người có quyền sử dụng đất được sử dụng hông gian và l ng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong huôn viên đất các tài sản có trên ranh giới đã được xác định phải được di dời

Các đương sự được đến cơ quan có thẩm quyền để đăng điều ch nh diện tích đất như ết quả đo đạc thực tế và được xác định ranh giới quyền sử dụng đất

3 Về án phí:

3.1. Anh Võ Minh G phải chịu 1 465 000đ Một triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đ ng) án phí d n sự sơ thẩm; nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200 000đ Hai trăm nghìn đ ng) theo biên lai số 029852 ngày 12/01/2015 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện V t nh Đ ng Tháp Anh G c n phải nộp them 1 265 000đ Một triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đ ng).

3.2. Bà Võ Thị M phải chịu 200 000đ Hai trăm nghìn đ ng) án phí d n sự sơ thẩm (Bà M chưa nộp)

4 Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 2 730 000đ Hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn đ ng), anh G và bà M mỗi người phải chịu 1.365.000đ Một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đ ng) Nhưng do anh G đã nộp xong nên bà Muội phải hoàn trả lại anh G số tiền 1.365 000đ Một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn đ ng)

Ngoài ra bản án d n sự sơ thẩm c n tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án hướng d n thi hành bản án và thời hạn háng cáo háng nghị

- Sau hi xét xử sơ thẩm ngày 08/12/2017 và ngày 09/12/2017, bà Võ Thị M là bị đơn, ông Võ Minh G là nguyên đơn háng cáo bản án d n sự sơ thẩm số 81/2017/DS-ST ngày 27/11/2017 của T a án nh n d n huyện LV.

- Tại phiên t a cấp phúc thẩm:

Nguyên đơn anh Võ Minh G trình bày: Anh G yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa anh G và bà M là đường thẳng từ mốc M6 đến mốc M5 theo sơ đ đo đạc ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện V.

Người đại diện của bị đơn bà Võ Thị M và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh H, anh T, bà L, anh V là anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh T yêu cầu T a án xác định ranh giới quyền sử dụng đất của bà M với anh G là phần ranh chung có diện tích 7 9m2 nằm trong phạm vi các mốc M2 M3 M5 M4 về M2 hông đ ng xác định ranh giới là đường thẳng nối từ mốc M6 đến M5 Yêu cầu T a án cấp phúc thẩm hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của anh G và buộc anh G phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá tài sản.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Ánh T trình bày: Chị T là vợ của anh G, chị thống nhất theo lời trình bày của anh G.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp phát biểu:

+ Về tố tụng: Từ hi thụ l vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ l giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a Hội đ ng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên t a

+ Về nội dung: Đại diện Viện iểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh G; chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của bà M đối với số tiền xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá tài sản anh G và bà M mỗi người phải chịu số tiền theo t lệ phần diện tích yêu cầu không được chấp nhận Đề nghị hông chấp nhận yêu cầu của bà M về việc xác định diện tích ranh chung 7 9m2 nằm trong phạm vi các mốc M2 M3 M5 M4 về M2.

Sau hi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ được thẩm tra tại phiên t a căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a và lời phát biểu của đại diện Viện iểm sát:

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét yêu cầu của anh Võ Minh G về việc yêu cầu gia đình bà M giao trả diện tích đo đạc thực tế 18,6m2 đất thuộc một phần của thửa đất số 95 tờ bản đ số 53 do anh G đứng tên quyền sử dụng đất; yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 95 của anh với thửa số 05 của bà M là đường thẳng nối một mốc giáp lộ Cái D u từ vị trí thực tế anh đang sử dụng đo qua đất của bà M 0 7m vị trí mốc M6) éo thẳng cuối đất của bà Muội vị trí mốc M5) theo sơ đ đo đạc ngày 08/9/2017 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện V, Hội đ ng xét xử xét thấy:

- Căn cứ mà anh G xác định ranh đất với bà M là hoảng năm 2003 – 2004 giữa cha anh và bà M có cắm trụ đá giáp lộ Cái D u để xác định ranh đất, đến năm 2014 hi gia đình bà M x y dựng nhà đã làm mất trụ đá mà anh cho rằng tại mốc M6 theo sơ đ đo đạc. Tuy nhiên, anh G hông có chứng cứ gì chứng minh là vào năm 2003-2004 cha anh và bà M có cắm trụ đá xác định ranh phía gia đình bà M cũng hông thừa nhận là giữa bà M và ông C cha anh có cắm trụ đá c p lộ Cái D u để xác định ranh đất với ông C.

- Về việc anh G trình bày khi anh được cấp đổi quyền sử dụng đất từ thửa 703 cũ sang bản đ địa chính chính quy thửa số 95, bà M có ký giáp ranh với anh và hi đó chiều ngang phía trước c p lộ Cái D u là 15 9m theo ết quả đo đạc hiện trạng sử dụng đất của anh ch có 15 2m, như vậy gia đình bà M đã lấn chiếm của anh chiều ngang 0,7m. Khi anh được cấp đổi sang bản đ địa chính chính quy có tiến hành đo đạc xác định ranh đất với các chủ đất liền ề nên anh được cấp quyền sử dụng đất là 883,6m2. Tuy nhiên,so với diện tích đo đạc thực tế anh đang sử dụng là 942 6m2 thừa 59m2 chưa ể diện tích đất tranh chấp với bà M là 26,5m2 và diện tích đất tranh chấp với ông Sĩ là 48 2m2). Do đó nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh chưa chính xác nên việc xác định chiều ngang đất của anh có chênh lệch là điều có thể xảy ra.

Việc anh G trình bày c y nhãn trên diện tích đất tranh chấp là do cha anh tr ng hoảng 40 năm nhưng cũng hông có gì chứng minh và gia đình bà M cũng hông thừa nhận và cho rằng là do anh V tr ng và hiện nay đang do gia đình bà M quản l sử dụng. Do anh G là người hởi iện nhưng hông có chứng cứ chứng minh nên Hội đ ng xét xử hông chấp nhận Đ ng thời diện tích đất trên thì gia đình bà M đã sử dụng ổn định từ năm 1991 đến nay hi bà M sửa nhà năm 2014 phía gia đình anh G cũng hông có tranh chấp gì đến hi anh G làm hàng rào thì mới xảy ra tranh chấp với gia đình bà M.

Do đó việc anh G yêu cầu gia đình bà M di dời tài sản trả lại diện tích lấn chiếm 18,6m2 và yêu cầu xác định ranh giới thửa số 95 của anh và thửa số 05 của bà M là đường thẳng nối từ mốc M6 đến mốc M5 theo sơ đ đo đạc ngày 08/9/2017 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện V là hông có căn cứ chấp nhận

[2] Việc anh Trung đại diện theo ủy quyền của bà M cho rằng trước đây giữa nhà của bà M và nhà ông C (nay là nhà anh G) có một con hẽm dùng chung và ranh giới giữa hai thửa đất là ½ con hẽm và yêu cầu xác định ranh chung giữa quyền sử dụng đất thửa số 05 của bà với thửa số 95 của anh G có diện tích 7 9m2 đất nằm trong phạm vi các mốc M2 M3 M5 M4 về M2 hiện anh G đang quản l sử dụng Hội đ ng xét xử xét thấy: diện tích 7 9m2 đất nằm trong phạm vi các mốc M2 M3 M5 M4 về M2 anh G đã sử dụng ổn định trước đ y hông có tranh chấp Đ ng thời theo ết quả đo đạc diện tích đất thực tế mà gia đình bà M đang sử dụng là 391 8m2 so với diện tích được cấp là 384 1m2, thừa 7,7m2 chưa ể phần diện tích tranh chấp với anh G 26,5m2) cũng hông phù hợp nên hông chấp nhận

[3] Từ những ph n tích nêu trên và căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất Hội đ ng xét xử xét thấy ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 95 của anh G và thửa số 05 của bà M là đường thẳng nối từ Mốc M2 đến M4 đến M5 theo sơ đ đo đạc ngày 08/9/2017 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện V mà T a án nh n d n huyện V đã xử là phù hợp nên hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh G và bà M về phần này

[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá tài sản: Do yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất của anh G và bà M hông được chấp nhận nên anh G và bà M phải chịu tiền chi phí theo t lệ diện tích đất yêu cầu hông được chấp nhận trên tổng diện tích đất tranh chấp Do đó chấp nhận một phần háng cáo của bà M đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá tài sản

[4] Đại diện Viện iểm sát đề nghị sửa bản án d n sự sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Do yêu cầu háng cáo của anh G hông được chấp nhận nên ông G phải chịu tiền án phí phúc thẩm; yêu cầu háng cáo của bà M được chấp nhận một phần nên bà M hông phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

T Đ NH:

Căn cứ hoản 2 Điều 308 và hoản 1, hoản 2, Điều 148 Bộ luật Tố tụng D n sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án

T n X :

1. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của anh Võ Minh G;

2. Chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của bà Võ Thị M.

3. Sửa một phần bản án d n sự sơ thẩm số 81/2017/DS-ST ngày 27/11/2017 của T a án nh n d n huyện LV t nh Đ ng Tháp về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc và định giá tài sản

4. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 95 do anh Võ Minh G đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 05 do hộ bà Võ Thị M đứng tên quyền sử dụng đất g m các mốc:

+ Mốc M2: Cách góc nhà sau của anh Võ Minh G một cạnh có chiều dài 17 8m và cách góc nhà chính của bà Võ Thị M một cạnh có chiều dài 16 45m

+ Mốc M4: Cách góc nhà chính của bà Võ Thị M một cạnh có chiều dài 1,57m.

+ Mốc M5: à trụ đá có sẵn trên đất là trụ đá được anh G và bà M thống nhất ranh đất) cách góc nhà sau của anh Võ Minh G có chiều dài 6m

Nối mốc M2 đến mốc M4 đến mốc M5 thành các đường thẳng có chiều dài 44,14m là ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 95 và thửa đất số 05, đất tọa lạc tại hóm BH thị trấn V huyện V t nh Đ ng Tháp có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2015 và sơ đ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp ngày 08/9/2017).

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai bên được xác định từ không gian đến l ng đất theo chiều thẳng đứng các tài sản có trên ranh giới đã được xác định phải được di dời

Các đương sự được đến cơ quan có thẩm quyền để đăng điều ch nh diện tích đất như ết quả đo đạc thực tế và được xác định ranh giới quyền sử dụng đất

5 Về án phí d n sự sơ thẩm:

5.1. Anh Võ Minh G phải chịu 1 465 000đ Một triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đ ng) án phí d n sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200 000đ Hai trăm nghìn đ ng) theo biên lai số 029852 ngày 12/01/2015 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện ấp V t nh Đ ng Tháp. Anh G c n phải nộp tiếp 1 265 000đ Một triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đ ng)

5.2. Bà Võ Thị M phải chịu 200 000đ Hai trăm nghìn đ ng) án phí d n sự sơ thẩm Bà Muội chưa nộp)

6 Về án phí d n sự phúc thẩm:

6.1. Anh G phải chịu 300 000đ án phí phúc thẩm nhưng hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300 000đ theo biên lai thu số 02121 ngày 11/12/2017 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện V

6.2. Bà M được nhận lại 300 000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 02123 ngày 11/12/2017 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện V.

7. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 2 730 000đ Hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn đ ng), anh G phải chịu 1.916.000đ; bà M phải chịu 814.000đ Nhưng do anh G đã nộp tạm ứng và chi xong, nên bà M phải hoàn trả lại anh G số tiền 814.000đ.

8. Trong trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án d n sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án ho c bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 7a 7b và 9 uật Thi hành án d n sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án d n sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật Thi hành án d n sự sửa đổi bổ sung năm 2014

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án /

Cỡ chữ