- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị M về việc ly hôn đối với anh Huỳnh Thanh Ph .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:122/2017/HNGĐ-ST Ngày: 30-11-2017 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ Toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Kim Sơn
2. Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quyền – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 395/2017/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13/11/2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị M, sinh năm 1978; (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh Ph, sinh năm 1973; (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 11/8/2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị M trình bày: chị và anh Ph cưới nhau vào năm 1998, do tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2000 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề nên vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau. Vợ chồng có cố gắng hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không kết quả dẫn đến ly thân từ năm 2011 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng và anh Ph cũng yêu cầu chị làm thủ tục ly hôn. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh Ph, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh Ph.
- Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Ch, sinh năm 1998 hiện đã thành niên và Huỳnh Thị Hồng Nh, sinh ngày 02/02/2000 hiện đang sống với anh Ph. Do cháu Nh đang có cuộc sống ổn định và có nguyện vọng muốn tiếp tục sống với anh Ph nên chị yêu cầu để anh Ph tiếp tục nuôi cháu Nh, chị không cấp dưỡng nuôi con nhưng sẽ lo cho con theo khả năng của mình.
Về chia tài sản: vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: vợ chồng không có nợ chung.
Đối với bị đơn anh Huỳnh Thanh Ph, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên tòa hợp lệ nhưng anh Ph không nộp văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Huỳnh Thanh Ph, Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo phiên tòa sơ thẩm, thông báo hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh Huỳnh Thanh Ph không đến tham dự phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Huỳnh Thanh Ph.
. Về nội dung: Chị Huỳnh Thị M và anh Huỳnh Thanh Ph cưới nhau vào năm 1998, có đăng ký kết hôn ngày 18/7/2000 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp. Chị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Ph là quan hệ tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn theo chị M trình bày do trong quá trình chung sống tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không yêu thương chăm sóc lẫn nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau, dẫn đến ly thân từ năm 2011 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau và không thiện chí hàn gắn với nhau nên chị M yêu cầu ly hôn với anh Ph. Đối với anh Ph, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh Ph vẫn không đến Tòa án để giải quyết cho thấy anh Ph không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị M.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị M và anh Ph đã phát sinh mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần xử chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh Ph.
Về nuôi con chung: chị M và anh Ph có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Ch, sinh năm 1998 hiện đã thành niên và Huỳnh Thị Hồng Nh, sinh ngày 02/02/2000 hiện đang sống với anh Ph. Chị M yêu cầu để anh Ph được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thị Hồng Nh. Hội đồng xét xử xét thấy, từ lúc vợ chồng ly thân đến nay cháu Nhung sống với anh Ph cuộc sống ổn định, mặt khác cháu Nhung cũng có nguyện vọng được sống với anh Ph nên chị M yêu cầu để anh Ph được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp cần chấp nhận.
Do anh Ph không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu sau này anh Ph có yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
Chị M không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Nếu chị M có căn cứ chứng minh anh Ph hạn chế quyền thăm nom con hoặc không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng một vụ án khác.
Về chia tài sản và nợ chung chị M trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: chị M phải chịu án phí theo qui định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị M về việc ly hôn đối với anh Huỳnh Thanh Ph .
Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị M được ly hôn với anh Huỳnh Thanh Ph.
Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Ch, sinh năm 1998 hiện đã thành niên và Huỳnh Thị Hồng Nh, sinh ngày 02/02/2000. Anh Huỳnh Thanh Ph được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thị Hồng Nh. Chị Huỳnh Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: chị Huỳnh Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000292 ngày 28/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An. Chị M đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện; - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thùy Trang |