- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Lương Thị Y ly hôn ông Trần Hữu L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 1219/2018/HNGĐ-ST Ngày: 23-11-2018 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Bích Hợp
2. Ông Nguyễn Đình Thọ
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1023/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Lương Thị Y, sinh năm 1971; cư trú tại: 57 đường N thuộc tổ A, khu vực B, phường Đ, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Trần Hữu L, sinh năm 1970; cư trú tại: 57 đường N thuộc tổ A, khu vực B, phường Đ, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. (Tại phiên tòa anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2018 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Lương Thị Y trình bày: Bà và ông Trần Hữu L tự nguyện kết hôn vào ngày 24/9/1998 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Hôn nhân do mai mối và có thời gian tìm hiểu nhau. Kể từ ngày chung sống vợ chồng hạnh phúc cho đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông L thường không quan tâm và chia sẻ gì với gia đình, mặc khác ông L có người phụ nữ khác ở bên ngoài về nhà không có tình cảm với bà, nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 01/2017 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã rất trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, tình cảm giữa bà và ông L đến nay cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng ông bà có ba con chung tên Trần Thanh N, sinh ngày 02/4/1998; Trần Thanh N, sinh ngày 11/01/2007 và Trần Thanh N, sinh ngày 09/12/2004. Hiện nay sức khỏe các con vẫn bình thường. Cháu N đã trưởng thành các con đang ở với bà. Nay ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung N và N. Về cấp dưỡng nuôi con bà không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Trần Hữu L đã được Toà triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Toà để khai báo, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên Toà xét xử nhưng ông L không đến Toà làm việc, vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thờ i điểm xét xử sơ thẩm . Tại phiên tòa sơ thẩm , Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng nhưng bị đơn vẫn còn vi phạm các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vu ̣ án : Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Lương Thị Y được ly hôn ông Trần Hữu L và được nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại 57 đường N thuộc tổ A, khu vực B, phường Đ, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn ông Trần Hữu L vắng mặt tại phiên tòa, HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Lương Thị Y và ông Trần Hữu L kết hôn trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/9/1998 tại UBND phường H, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống ông bà hạnh phúc thời gian đầu, những năm gần đây thường xuyên phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được vợ chồng sống không có hạnh phúc, tháng 01/2017 ông bà ly thân cho đến nay là phù hợp với việc Tòa xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương. Tại phiên tòa hôm nay bà Y yêu cầu ly hôn ông L, nhưng ông L không đến Tòa tham gia tố tụng giải quyết vụ án. HĐXX xét thấy hôn nhân của ông bà có mâu thuẫn và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà Y yêu cầu ly hôn ông L là phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được qui định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Ông L bà Y có ba con chung tên Trần Thanh N, sinh ngày 02/4/1998; Trần Thanh N, sinh ngày 11/01/2007 và Trần Thanh N, sinh ngày 09/12/2004. Hiện nay sức khỏe các con vẫn bình thường. Cháu N đã trưởng thành các con đang ở với bà Y. Nay bà yêu cầu được nuôi con chung N và N. Xét yêu cầu trực tiếp được nuôi dưỡng con chung tên Trần Thanh N và Trần Thanh N của bà Y là hoàn toàn chính đáng, vì về thực tế các cháu là nữ hiện đang sống cùng bà Y nên cần có sự chăm sóc của người mẹ, bà Y có việc làm có thu nhập ổn định, hơn nữa các con đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng tiếp tục được ở với mẹ, việc giao con cho bà Y tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, hợp lý, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và theo quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình. Nên HĐXX giao con chung N và N cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Là cha ông L được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con bà Y không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Bà Y không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về án phí HNGĐST: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bà Nguyễn Lương Thị Y phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về quá trình giải quyết vụ án. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, 58 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Lương Thị Y ly hôn ông Trần Hữu L.
2. Về con chung: Bà Y và ông L ba con chung tên Trần Thanh N, sinh ngày 02/4/1998; Trần Thanh N, sinh ngày 11/01/2007 và Trần Thanh N, sinh ngày 09/12/2004. Cháu N đã trưởng thành các con đang ở với bà Y.
- Việc nuôi dưỡng con chung: Giao con chung tên Trần Thanh N, sinh ngày 11/01/2007 và Trần Thanh N, sinh ngày 09/12/2004 cho bà Nguyễn Lương Thị Y được trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung không bên nào được ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Bà Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Lương Thị Y phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000454 ngày 10/10/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự TP. Quy Nhơn. Bà Y đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Lương Thị Y được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Hữu L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND TP. Quy Nhơn; - Chi cục THADS TP.Quy Nhơn; - UBND phường H, TP.Quy Nhơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Lê Thị Ngọc Dung |