vanban.org

Bản án 121/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 13/07/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân khu vực 9 - Cà Mau.

Giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cà Mau để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung. Bị cáo Trần Văn Q không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo kêu oan - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân khu vực 9 - Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2026/HS-PT
Ngày: 13-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Huỳnh Văn Yên

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 13 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2026/HS-PT ngày 11/5/2026 đối với bị cáo Trần Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau.

- Bị cáo kháng cáo:

Trần Văn Q, sinh ngày 01/01/1991, tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu (cũ); số CCCD: 095091011373; nơi cư trú: Ấp I, xã P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và bà Đinh Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Trung E, sinh ngày 01/01/1988 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp I, xã P, tỉnh Cà Mau.

- Người làm chứng, gồm:

1. Ông Đinh Văn C, sinh ngày 01/01/1979 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp I, xã P, tỉnh Cà Mau.

2. Ông Lê Văn K, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/3/2025, gia đình ông Nguyễn Trung E có thuê ông Lê Văn K cuốc đất nạo vét đường mương nước giáp ranh phần đất của gia đình Trần Văn Q và chị gái là bà Trần Thị Cẩm L thuộc ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp I, xã P, tỉnh Cà Mau). Do thấy ông K điều khiển máy cuốc đất sát vào ranh đất, bà L sợ nhà bị sạt lở nên đi ra trước máy cuốc để cắm lại các cây gỗ kè bờ mương và yêu cầu không được cuốc sát ranh đất. Thấy vậy, Nguyễn Trung E từ trong nhà đi qua phần đất sau nhà bà L nói chuyện thì xảy ra cự cãi với bà L, quá trình cự cãi Q nghe Trung Em chửi thề với bà L nên Q từ trong nhà chạy ra nói “Đụ má mày sao mày không chửi, mày đàn ông con trai sao chửi chị tao”. Quành nhặt cục gạch ống (loại gạch xây nhà) có sẵn dưới đất lên thì Trung E thách thức “Mày ngon mày đánh tao đi”. Q lao đến dùng cục gạch đánh vào vai phải của Trung E một cái (không gây ra thương tích) rồi bỏ cục gạch xuống đất. Bị Q đánh nên Trung E lao vào đánh lại nhưng Trung E bị Q nắm lấy tay phải bẻ chéo ra sau lưng, Trung E liền dùng tay trái câu cổ Q, Q tiếp tục nắm chéo tay phải của Trung E ra sau lưng rồi ép lưng Trung Em dựa vào cây Tràm theo tư thế đứng, Q và Trung E mặt đối diện nhau, tay phải của Trung E bị Q nắm chéo ra sau lưng, Q đè ép Trung Em tiếp xúc với cây tràm gây ra vết xây xát. Trung Em vùng vẫy và được bà L, bà Nguyễn Thị L1 (vợ của Trung E) can ngăn nên Q mới buông Trung Em ra. Khi thoát ra được thì Trung E liền nhặt một nhánh cây khô (to bằng nửa cổ tay người lớn, dài khoảng 1,5 mét) để tiếp tục đánh lại Quành. Thấy vậy, Q nhặt cục gạch ống (loại gạch xây nhà) có sẵn dưới đất cầm lên tay, nhưng được bà L can ngăn nên Trung E bỏ nhánh cây xuống đất, Q cũng bỏ cục gạch xuống đất, Trung E đi về không xảy ra đánh nhau. Khi đi gần đến phần ranh đất, do bực tức việc bị Q đánh nên Trung E quay lại chửi thì bị bà L chửi lại, bị chửi nên Trung E nhào vô dùng tay đánh vào mặt bà L một cái (không gây thương tích). Thấy bà L bị đánh, Q chạy lại câu vật với Trung E nhưng được can ra, không ai bị thương tích gì. Ông Đinh Văn C đi đến can ngăn kéo Trung E về nhưng Trung E còn bực tức nên quay lại tiếp tục chửi thì bị Q đứng cách đó khoảng 03 (ba) mét, tay phải cầm cục gạch ống giơ lên ném Trung Em. Thấy Trung E bị Q ném cục gạch trúng vào xương đòn phải nên ông C nắm tay kéo Trung Em về thì Trung E nói “Đau quá chắc bị gãy tay rồi”. Trong quá trình đánh nhau, Trung E đã tự đạp miểng chai tại khu vực hiện trường gây ra vết xây xát da ở lòng bàn chân phải. Về đến nhà, T được gia đình đưa đến Trung tâm Y tế thị xã G để khám vết thương, xác định bị gãy xương đòn phải. Tuy nhiên, Trung E không nhập viện điều trị ngay mà được cho về nhà theo dõi, uống thuốc điều trị tại nhà. Đến ngày 20/3/2025, Trung E đến Công an xã P (nay là công an xã P) trình báo vụ việc. Đến ngày 21/3/2025, Trung Em đến Trung tâm Y tế thị xã G khám bệnh, được nhập viện và chuyển tuyến đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị cho đến ngày 31/3/2025 được xuất viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 76/KLTTCT-TTPY nghày 18/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh B (nay là Trung tâm Pháp y tỉnh C) kết luận: Một sẹo mổ ở mặt trước vai phải để kết hợp gãy xương đòn, tỷ lệ 02%; Xây xát để lại vết biến đổi sắc tố da ở 1/3 giữa ngoài cẳng tay phải, tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ phải qua trái; Xây xát để lại vết biến đổi sắc tố da ở lòng bàn chân phải, tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ phải qua trái; Gãy 1/3 xương đòn phải đã phẫu thuật kết hợp xương, can liền tốt, không ảnh hưởng đến gánh – vác, tỷ lệ 08%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ phải qua trái. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trung E tại thời điểm giám định là 11%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026, Tòa án nhân khu vực 9 - Cà Mau đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 24.369.119 đồng, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08/4/2026, bị cáo Q kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau về phần hình phạt đối với bị cáo.

- Bị hại trình bày: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không gây thương tích cho bị hại, nên đề nghị điều tra lại vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn về ranh đất từ trước đến nay chưa giải quyết xong, nên vào khoảng 17 giờ ngày 15/3/2025, giữa Trần Văn Q và ông Nguyễn Trung E có xảy ra cự cãi, xô xát đánh nhau. Hậu quả, ông Trung E bị thương tích. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 76/KLTTCT- TTPY ngày 18/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh B (nay là Trung tâm Pháp y tỉnh C) xác định các thương tích của ông Trung E, gồm: Một sẹo mổ ở mặt trước vai phải để kết hợp gãy xương đòn, tỷ lệ 02%; Xây xát để lại vết biến đổi sắc tố da ở 1/3 giữa ngoài cẳng tay phải, tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ phải qua trái; Xây xát để lại vết biến đổi sắc tố da ở lòng bàn chân phải, tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ phải qua trái; Gãy 1/3 xương đòn phải đã phẫu thuật kết hợp xương, can liền tốt, không ảnh hưởng đến gánh – vác, tỷ lệ 08%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ trước ra sau, từ phải qua trái. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trung E tại thời điểm giám định là 11%.

Trong các thương tích nói trên, ông Trung E xác định thương tích ở lòng bàn chân phải có tỷ lệ 0,5% là do ông tự đạp miểng chai tại khu vực hiện trường; Các thương tích còn lại của bị hại có tỷ lệ 10,5% do bị cáo Q gây ra, trong đó thương tích gãy xương đòn phải do bị cáo Q dùng viên gạch ống ném ông gây ra. Ngược lại, phía bị cáo Q không thừa nhận có dùng viên gạch ống ném gây thương tích cho ông Trung E.

Cấp sơ thẩm căn cứ vào kết quả giám định thương tích, kết quả giám định vật gây thương tích, Công văn số 51 ngày 17/10/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh C giải thích kết luận giám định và lời khai của người làm chứng là ông Đinh Văn C, để buộc tội bị cáo Q dùng viên gạch ống gây thương tích cho ông Trung E. Các căn cứ mà các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm buộc tội bị cáo là chưa có cơ sở vững chắc, hồ sơ còn tồn tại nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng chưa được điều tra làm rõ, bởi lẽ:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai mốc thời gian từ khi xảy ra cự cãi, câu vật cho đến khi đánh nhau giữa bị cáo và bị hại diễn ra trong khoảng 10 phút. Trong khi đó, bị hại Trung Em xác định toàn bộ sự việc chỉ diễn ra khoảng 05 phút. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa tiến hành thực nghiệm điều tra để làm rõ với một khối lượng diễn biến phức tạp gồm nhiều giai đoạn (cự cãi, câu vật, vật ngã, dùng gạch hù dọa/ném) thì trên thực tế chuỗi sự việc này cần khoảng thời gian bao lâu để hoàn thành.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 47/2025/CN ngày 17/7/2025 của Trung tâm Y tế thị xã G (nơi bị hại đến khám lần đầu) chỉ ghi nhận ngày 15/3/2025 mà không thể hiện giờ, phút tiếp nhận bệnh nhân. Cơ quan điều tra đã thiếu sót khi không thu thập các tài liệu lưu trữ gốc (như Sổ tiếp nhận cấp cứu, Phiếu chỉ định chụp X-quang hoặc trích xuất siêu dữ liệu thời gian thực trên Hệ thống lưu trữ và truyền nhận hình ảnh - PACS của Trung tâm Y tế) để xác định chính xác thời điểm ông Trung E đến khám. Việc làm rõ mốc giờ này là cần thiết để đối chiếu xác định thời gian khám có liên tục và sát với thời gian xảy ra xô xát giữa bị cáo và bị hại hay không, nhằm loại trừ khả năng thương tích gãy xương đòn phát sinh từ một nguyên nhân hoặc va chạm khác trong khoảng thời gian trống này.

Bỏ sót việc lấy lời khai của nhóm nhân chứng tiếp cận đầu tiên

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại xác định sau khi xảy ra sự việc khoảng 30 phút, chị dâu của bị hại là bà Nguyễn Thị H đã gọi điện thuê ông Huỳnh Văn C1 (tài xế xe dịch vụ có địa chỉ cùng với bị hại) đến chở bị hại cùng bà H và ông Nguyễn Văn K1 (anh rể bị hại) đi khám tại Trung tâm Y tế G (thời gian chạy xe khoảng 30 phút), làm thủ tục khám, chụp X-Q1 khoảng 30 phút, sau đó nhóm người này cũng đồng hành cùng bị hại đi xe của ông C1 về nhà. Đây là những nhân chứng khách quan, tiếp cận bị hại sớm nhất ngay sau khi sự việc kết thúc. Phía bị cáo xác định sau khi xảy ra sự việc, bị hại về bên nhà còn chửi và cầm cục sình ném về phía bị cáo. Khoảng 02 tiếng sau thấy có xe ô tô đến nhà bị hại chở đi, khoảng 01 tiếng sau thì thấy xe ô tô quay lại nhà bị hại. Cơ quan điều tra đã bỏ sót, không lấy lời khai của tài xế C1, bà H và ông K1 để xác định: Mốc thời gian xe ô tô đón bị hại là mấy giờ (yêu cầu trích xuất dữ liệu cuộc gọi/định vị của tài xế Huỳnh Văn C1 để xác định chính xác thời điểm xe đến đón và thời điểm xe quay về nhà bị hại)? Xác định bị hại dùng tay nào cầm cục đất ném về phía bị cáo? Trong thời gian sau khi kết thúc sự việc, bị hại về nhà đến thời điểm xe ô tô đến đón là bao lâu, trong khoảng thời gian này có phát sinh vụ va chạm, té ngã hoặc xô xát nào khác dẫn đến việc bị hại thực sự bị gãy xương đòn hay không? Trạng thái vận động của tay phải bị hại lúc lên xe như thế nào (có bị liệt chức năng, bất động hoàn toàn do gãy xương đòn di lệch hay không)?

Mâu thuẫn về tư thế chấn thương và việc chưa đối chất

Cùng chứng kiến một giai đoạn xô xát, nhưng các nhân chứng là người nhà bị hại lại cho lời khai mâu thuẫn nhau: Bà Huỳnh Thị D (mẹ bị hại) khai nhìn thấy bị hại bị té sấp mặt xuống đất (bút lục 170), trong khi ông Nguyễn Văn T1 (anh ruột bị hại) lại khai nhìn thấy bị hại bị té ngửa xuống đất (bút lục 176). Còn tại phiên toà, bị hại Trung E lại khai không nhớ mình có bị té ngã hay không. Mặt khác, lời khai về hành vi dùng gạch ở giai đoạn sau giữa các bên cũng đối lập hoàn toàn: Bị hại khai bị cáo ném gạch trúng vai khiến bị hại choáng váng quỵ chân tại chỗ (không té); trong khi bị cáo kiên quyết khẳng định chỉ duy nhất một lần bị cáo cầm gạch định đánh bị hại khi bị hại thách đố bị cáo đánh bị hại; còn sau khi thấy bị hại dùng tay đánh vào đầu chị ruột của bị cáo, thì bị cáo chạy từ trong nhà ra chỗ bị hại định đánh thấy bị hại đã tự té ngã ngửa từ trước, bị cáo không đánh được bị hại do bị hại dùng chân đạp trúng bụng bị cáo. Tư thế "té xấp mặt" hay "té ngửa" có mối quan hệ nhân quả trực tiếp đến cơ chế lực bẻ gãy xương đòn. Cơ quan điều tra chưa tiến hành đối chất giữa mẹ bị hại, anh ruột bị hại và bị hại để xác định có hay không việc bị hại bị ngã và tư thế ngã chính xác là gì để đối chiếu với khoa học pháp y.

Lời khai của người làm chứng ông Đinh Văn C

Ông Đinh Văn C là người làm chứng duy nhất khẳng định nhìn thấy bị cáo dùng gạch ném trúng vai phải bị hại. Tuy nhiên, lời khai của ông C chưa đảm bảo tính khách quan: (1) Bị cáo kháng cáo và có xác nhận của người dân địa phương về việc gia đình bị cáo và ông C có mâu thuẫn sâu sắc, không nhìn mặt nhau nhiều năm. Đồng thời, lời khai của ông C mâu thuẫn hoàn toàn với lời khai ban đầu ngày 20/3/2025 của mẹ bị hại (khẳng định hai bên chỉ đánh nhau bằng tay, bút lục 170 - 171). Cơ quan điều tra chưa tiến hành xác minh mâu thuẫn này và chưa cho đối chất giữa ông C với mẹ bị hại để đánh giá sự trung thực của lời khai; (2) Bị hại khai vị trí bị cáo đứng cách bị hại 03m, ông C đứng phía sau mé bên tay phải bị hại khoảng 02m. Bị hại khai sau khi bị cáo ném, cục gạch rơi dưới chân bị hại, còn ông C lại khai cục gạch rơi ngay chân ông C (bút lục 160-161). Cơ quan điều tra chưa tiến hành thực nghiệm điều tra để làm rõ: Một viên gạch ống nặng 01kg (bút lục 67) sau khi va chạm vào mặt trước vai phải (vật cản) thì theo quy luật phản lực có thể bay ngược ra phía sau 02m để rơi xuống chân người làm chứng được không? Và với góc đứng ở phía sau bị hại, tầm nhìn của ông C có bị phần bả vai sau của bị hại che khuất hay không?

Chưa giám định bổ sung để loại trừ các nguyên nhân gãy xương đòn ở các giai đoạn trước

Kết luận giám định pháp y xác định hướng lực tác động là từ trước ra sau, từ phải qua trái. Bị hại khai sau khi bị cáo cầm gạch ném trúng vai phải, bị hại về nhà kiểm tra da vùng vai của bị hại chỉ có vết hằn đỏ, hoàn toàn không bị xây xát, không bị chảy máu. Do vụ án diễn ra qua nhiều giai đoạn giằng co, Cơ quan điều tra chưa tiến hành trưng cầu giám định bổ sung hoặc yêu cầu cơ quan giám định giải thích các trường hợp: (1) Trong tư thế bị hại bị bị cáo đè ép lưng bị hại vào thân cây Tràm ở tư thế đứng thẳng, tay phải bị hại bị bẻ chéo mạnh về phía sau lưng, nội lực co cơ hoặc lực ép tương tác với thân cây có khả năng gây ra tổn thương gãy cụ thể ở vị trí đầu ngoài xương đòn này hay không? (2) Trong tư thế câu vật và bị vật ngã té sấp mặt xuống, nếu bị bồi thêm trọng lượng và lực đè ép từ thân thể bị cáo từ phía trước, lực tác động này kết hợp với lớp áo sơ mi dày có khả năng tạo ra hướng lực chéo Trước - Sau và vết hằn đỏ trên da nhưng đủ bẻ gãy kín 1/3 ngoài xương đòn phải hay không? (3) Trong trường hợp bị hại bị té ngã ngửa có khả năng bị gãy kín 1/3 xương đòn phải hay không?

Xét thấy các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm điều tra, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, không toàn diện, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được các vấn đề này, cần thiết phải hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát không được chấp nhận.

Do hủy án sơ thẩm, nên không xem xét kháng cáo của bị cáo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân khu vực 9 - Cà Mau.

2. Giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cà Mau để điều tra, giải quyết lại theo thủ tục chung.

3. Bị cáo Trần Văn Q không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ