vanban.org

Bản án 121/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Diễm M đối với anh Lê Văn T. Cho chị Trần Diễm M ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Giao cháu Lê Nhã U, sinh ngày 27/6/2021 cho chị Trần Diễm M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Lê Nhã U đang sống với chị Trần Diễm M. Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Diễm M- Lê Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Diễm M đối với anh Lê Văn T. Cho chị Trần Diễm M ly hôn với anh Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự giải; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:121/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 5 – 2026
Về việc ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Phước

2. Ông Trần Ngọc Ẩn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 168/2026/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Diễm M, sinh ngày 01/10/2003 (vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 01/11/2022.

Địa chỉ: Số F L, Khóm C, phường A, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh ngày 23/05/2001 (vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 11/8/2021.

Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 02 năm 2026 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Trần Diễm M trình bày: Năm 2020, chị và anh Lê Văn T quen biết và xây dựng hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Cà Mau) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 27 tháng 01 năm 2023. Thời gian đầu, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2023, chị và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh T không lo làm ăn, phụ giúp chị chăm sóc con và gia đình mà đi chơi mặc dù chị đã khuyên nhiều lần. Đến tháng 11 năm 2024, chị và anh T ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh T có liên lạc nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung, chị và anh T có một người con chung tên Lê Nhã U, sinh ngày 27/6/2021, hiện nay cháu U đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Nhã U, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cà Mau phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho chị Trần Diễm M ly hôn với anh Lê Văn T. Về con chung, giao cháu Lê Nhã U, sinh ngày 27/6/2021 cho chị Trần Diễm M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, chị M phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Trần Diễm M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T. Khi khởi kiện, anh Lê Văn T trú tại ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp V, xã V, tỉnh Cà Mau). Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp cho người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị Trần Diễm M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt chị M và anh T.

Về hôn nhân: Chị Trần Diễm M và anh Lê Văn T xây dựng hôn nhân năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã V, tỉnh Cà Mau) theo giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 27 tháng 01 năm 2023 nên hôn nhân giữa chị M và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo chị M xác định thời gian đầu, chị M và anh T chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến khoảng năm 2023, chị và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Đến tháng 11 năm 2024, chị và anh T ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh T có liên lạc nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị M, như vậy anh T đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Trần Diễm M và anh Lê Văn T có một người con chung là cháu Lê Nhã U, sinh ngày 27/6/2021, hiện nay đang sống chung với chị M. Chị M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu U, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T đã được Tòa án thông báo ý kiến của chị M nhưng anh T không có ý kiến phản đối hay yêu cầu gì đối với chị M. Xét thấy, từ khi ly thân, chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Nhã U, cháu được chăm sóc tốt và được tạo điều kiện phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Mặt khác, cháu U là bé gái, tính đến nay chỉ hơn 5 tuổi nên rất cần sự chăm sóc, giáo dục từ mẹ. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống ổn định và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Lê Nhã U, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cho chị Trần Diễm M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Nhã U. Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh Lê Văn T không phải chịu án phí.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cà Mau là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp cho người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ Điều 19, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Diễm M đối với anh Lê Văn T. Cho chị Trần Diễm M ly hôn với anh Lê Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Nhã U, sinh ngày 27/6/2021 cho chị Trần Diễm M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Lê Nhã U đang sống với chị Trần Diễm M. Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị Trần Diễm M phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Trần Diễm M đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003681 ngày 03 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí. Anh Lê Văn T không phải chịu án phí.

6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ