- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mộng T. Bà Huỳnh Thị Mộng T được ly hôn với ông Trần Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG Bản án số: 121/2026/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Gẩm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thế Xương.
2. Ông Huỳnh Đức Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2026/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/7/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mộng T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp H, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp H, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mộng T trình bày:
Bà và chồng là ông Trần Văn T1 kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 13/7/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, cùng nhau chăm lo phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, đến năm 2023, bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện tại, bà không còn tình cảm với ông T1, hôn nhân không thể kéo dài do không có hạnh phúc. Do đó, bà yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết được ly hôn.
Về con chung: Giữa bà và ông T1 có 02 con chung là Trần Thị Thúy V, sinh ngày 05/02/2008 (đã thành niên, tự lao động) và Trần Văn T2, sinh ngày 26/6/2011 hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi Trần Văn T2, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung bà T không yêu cầu giải quyết, nợ chung bà T trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mộng T có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn T1 đã được tống đạt nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T và ông T1.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông T1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 13/7/2007. Bà T cho rằng cuộc sống hôn nhân thời gian đầu rất hạnh phúc. Nhưng từ năm 2023 phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau. Vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Hiện tại, bà không còn tình cảm với ông T1, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau và không tìm được hạnh phúc gia đình. Từ đó, bà T xin ly hôn. Đối với ông T1, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải nhưng ông T1 vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Qua đó chứng tỏ ông T1 cũng không mong muốn được hoà giải đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia đình. Đồng thời, bà T đã khẳng định hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà T và ông T1 là vợ chồng nhưng lại xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm chăm sóc nhau. Hơn nữa, bà T khẳng định đã không còn tình cảm với ông T1 và không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này.
Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cũng đã tổ chức phiên hoà giải mục đích nhằm động viên bà T và ông T1 đoàn tụ, hàn gắn tình cảm gia đình nhưng bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, ông T1 thì vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
[3] Về con chung: Giữa bà T và ông T1 có 02 con chung là Trần Thị Thúy V, sinh ngày 05/02/2008 (đã thành niên, tự lao động) và Trần Văn T2, sinh ngày 26/6/2011 hiện do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng cho con mỗi. Tại biên bản lấy ý kiến con thì Trần Văn T2 cũng có nguyện vọng được sống chung với bà T. Vì vậy, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống của con nên cần giao con chung là Trần Văn T2 cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng. Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình qui định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Xét thấy, bà T tự nguyện không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: Bà T trình bày không có.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dung án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mộng T. Bà Huỳnh Thị Mộng T được ly hôn với ông Trần Văn T1.
Về con chung: Giao Trần Văn T2, sinh ngày 26/6/2011 cho bà T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được qui định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà T trình bày không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0010606 ngày 01/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 7-Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã Lương Hòa ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Gẩm |