- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị La Thị G và anh Quàng văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị La Thị G đối với anh Quàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2026/HNGĐ- ST Ngày: 24-6-2026 V/v: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Ức, ông Hoàng Trung Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu Hà- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 258/2026/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị La Thị G, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Bản CL, xã Ch, tỉnh Sơn La.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Quàng Văn T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Bản CL, xã Ch, tỉnh Sơn La.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị La Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị La Thị G và anh Quàng Văn T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 16/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã CL, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị La Thị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Quàng Văn T.
Về con chung: Chị La Thị G và anh Quàng Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013, cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018.
Chị Gió có nơi cư trú ổn định, trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán thêm, có thu nhập. Chị Gió đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ, kể từ khi sống ly thân hai cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ ở với chị Gió.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị La Thị G không yêu cầu anh Quàng Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị La Thị G cam đoan không có nợ chung.
Trong bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Quàng Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh Quàng Văn T và chị La Thị G kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 16/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã CL, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, anh nhất trí ly hôn với chị La Thị G.
Về con chung: Anh Quàng Văn T và chị La Thị G có 02 (hai) con chung là cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013, cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018.
Anh Quàng Văn T nhất trí để chị Gió trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ sống cùng với mẹ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Quàng Văn T cam đoan không có nợ chung.
Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Tại biên bản xác minh ngày 14/5/2026: Tại Bản CL, xã Ch, tỉnh Sơn La. Anh Quàng Văn T và chị La Thị G có hộ khẩu thường trú tại Bản CL, xã Ch, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã CL, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể không nắm được. Anh Quàng Văn T và chị La Thị G có 02 (hai) con chung là cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013, cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018, các cháu đều ở với chị Gió từ ngày vợ chồng ly thân cho đến nay. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Chị La Thị G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Gió giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Anh Quàng Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Tuấn giữ nguyên yêu cầu ý kiến trong bản tự khai.
Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ đều có nguyện vọng là ở với mẹ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị La Thị G được ly hôn anh Quàng Văn T.
Về con chung: Giao cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013, cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018 cho chị La Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Gió không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con).
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị La Thị G, anh Quàng Văn T cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn chị La Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về pháp luật tố tụng:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị La Thị G yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Quàng Văn T có địa chỉ tại Bản CL, xã Ch, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, nên xác định quan hệ pháp luật là vụ án Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị La Thị G, bị đơn anh Quàng Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị G và anh Quàng Văn T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 16/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã CL, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị La Thị G và anh Quàng Văn T đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Gió cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Quàng Văn T, anh Quàng Văn T nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Gió và anh Tuấn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị La Thị G được ly hôn anh Quàng Văn T. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị La Thị G và anh Quàng Văn T có 02 (hai) con chung là cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013, cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018.
Tại bản tự khai: Chị La Thị G và anh Quàng Văn T đều có ý kiến đề nghị giao hai cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013 và cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018 cho chị La Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ đều có nguyện vọng được ở với mẹ.
Chị La Thị G và anh Quàng Văn T đều có nơi cư trú rõ ràng, anh Quàng Văn T thường xuyên đi làm thuê xa. Chị La Thị G trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập ổn định. Chị La Thị G là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ từ ngày vợ chồng sống ly thân năm 2022 cho đến nay.
Trên cơ sở xem xét ý kiến của chị Gió và anh Tuấn, nguyện vọng của cháu Quàng Đức C và cháu Quàng Bảo Đ đều có nguyện vọng muốn ở với chị Gió.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, cần giao cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013 và cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018 cho chị La Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Gió không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị La Thị G, anh Quàng Văn T cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Nguyên đơn chị La Thị G không có đơn xin miễn án phí, chị La Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn của chị La Thị G đối với anh Quàng Văn T.
Xử cho chị La Thị G được ly hôn anh Quàng Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Quàng Đức C, sinh ngày 23/7/2013 và cháu Quàng Bảo Đ, sinh ngày 07/10/2018 cho chị La Thị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Gió không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con).
4. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về tài sản riêng: Không có.
6. Về nợ chung: Chị La Thị G, anh Quàng Văn T cam đoan không có nợ chung.
7. Về án phí: Chị La Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000327, ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.
8. Về quyền kháng cáo: Chị La Thị G, anh Quàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn La (2); - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Sơn La; - Đương sự; - UBND xã CL, tỉnh Sơn La; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |