- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Huỳnh Thanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chấ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Bùi Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Huỳnh Thanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121 /2025/HS-ST Ngày: 22-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Sơn
Ông Trần Đình Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2025/TLST-HS ngày 28/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2025/QĐST-HS ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo:
1. Bùi Thị C, tên gọi khác: N, sinh năm: 1975 tại Cần Thơ.
Hộ khẩu thường trú: Khu phố K, phường T, thành phố Hồ Chí Minh, Nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: ông Bùi Văn S (đã chết); Mẹ: Bà Nguyễn Thị B (đã chết); Bị cáo không có chồng, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự
Ngày 17/6/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 71/2023/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 06/5/2024.
Bị bắt tạm giữ ngày 16/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngãi Giao (sơ sở 1) - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
2. Huỳnh Thanh T, tên gọi khác: Tuấn G, sinh năm: 2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố T, phường P, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: khu phố M, phường P, thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Cha là ông Huỳnh Bình A (đã chết) và M là bà Nguyễn Thị Thanh T1; Bị cáo không có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: 03 tiền sự
Ngày 26/3/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TA.
Ngày 24/5/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 11/2021/QĐ-TA.
Ngày 19/10/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 20 tháng theo Quyết định số 155/2023/QĐ-TA.
Bị bắt ngày 29/9/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngãi Giao (sơ sở 1) - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Đối với vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy”:
Bùi Thị C là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy và bán cho người khác kiếm lời nên C nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 11/7/2025, C liên hệ với người đàn ông tên P (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy dạng đá với số tiền 3.200.000 đồng. P đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực thuộc xã B, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, C thuê xe ôm chở đến một quán cà phê (không tên) nằm trên đường Q rồi gửi vị trí cho P qua zalo để P đến điểm hẹn. Tại đây, P giao cho C 02 gói ma túy đá, C trả cho P 3.200.000 đồng tiền mặt. Sau khi giao dịch xong, C đi xe khách về quán C2 (Cúc thuê để bán cà phê) thuộc tổ A, khu phố P, phường T, thành phố Hồ Chí Minh rồi phân chia ra 16 gói ma tuý để cất giấu nhằm bán cho người khác.
Vào ngày 12/7/2025, Lâm Chí C1 (sinh năm: 1996, cư trú tại tổ B khu phố M, phường P, thành phố Hồ Chí Minh) liên hệ với C để mua 1.700.000 đồng ma túy đá, C đồng ý và hẹn C1 đến quán C2. Tại đây, C giao cho C1 01 gói ma túy rồi nhận 1.700.000 đồng tiền mặt từ C1.
Ngày 16/7/2025, Lâm Chí C1 tiếp tục gọi điện thoại cho C hỏi mua ma túy đá. Lúc này, C đang ở ngoài đường không nghe rõ nên hẹn C1 đến quán C2 gặp mặt. Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 16/7/2025, khi C về đến quán C2 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang. (BL 20-21)
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Thị C khai nhận toàn bộ hành vi như trên. (BL 50-74).
Ngoài ra, C còn khai nhận: vào đầu tháng 7/2025, tại quán cà phê võng H, C đã bán 01 gói ma túy đá cho Lâm Chí C1 và nhận 300.000 đồng lấy tiền mặt từ C1. Ngày 10/7/2025, cũng tại quán C2, C đã bán cho Huỳnh Thanh T 01 gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Nguồn gốc ma túy là do C mua của P với giá 1.000.000 đồng tại chợ B2 thuộc khu phố A, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Bản kết luận giám định số 1072/KL-KTHS-MT ngày 21/7/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận (BL 33):
- Mẫu vật gửi giám định có khối lượng 6,1312 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định được niêm phong số 1072 ngày 23/7/2025 của Phòng K Công an Công an thành phố H; 02 ống thủy tinh một đầu hình trụ tròn, đầu còn lại hình phễu dùng để sử dụng ma tuý; 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, một đầu cắt chéo dùng để xúc ma túy; 02 gói nylon không chứa gì; 01 kéo kim loại; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A58, màu xanh lam, số Emei 1: 864818063059778, số Emei 2: 864818063059778, 01 bóp da màu đen và số tiền 2.390.000 đồng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12- thành phố Hồ Chí Minh bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
[2] Đối với vụ “Sử dụng trái phép chất ma túy”:
Huỳnh Thanh T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 129/QĐ-UBND ngày 13/6/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P thời hạn quản lý sau cai từ ngày 11/6/2025 đến ngày 11/3/2027. Trong thời hạn quản lý sau cai, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T liên hệ với Bùi Thị C để mua 300.000 đồng tiền ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu và mang tới căn chòi hoang gần Cảng nội địa Đ thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng ma túy một mình hết số ma túy mua được.
Đến ngày 31/8/2025, T tiếp tục mua 200.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu phố T, phường P. Sau khi mua được ma túy T mang về nhà tại khu phố M, phường P và sử dụng một mình hết số ma túy này.
Vào ngày 19/7/2025 và ngày 03/9/2025, Cơ quan Công an mời T lên làm việc và xét nghiệm nhanh chất ma túy, kết quả thể hiện T dương tính với ma túy đá (methamphetamine). Cơ quan Công an tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của T để xử lý theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 1284/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng K - Công an T kết luận: Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu gửi giám định. (BL 24)
Tại Bản kết luận giám định số 5826/KL-KTHS ngày 25/9/2025 của Phòng K - Công an T kết luận: Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu gửi giám định. (BL 28)
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 27/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Bùi Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Huỳnh Thanh T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố: Bùi Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Huỳnh Thanh T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm b, i Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo Bùi Thị C từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.
Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 256a, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo Huỳnh Thanh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung ngân sách 01 điện thoại di động hiệu OPPO A58, màu xanh lam, số Emei 1: 864818063059778, số Emei 2: 864818063059778 và số tiền 2.300.000 đồng là tiền thu lợi bất chính và liên quan đến hành vi phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định được niêm phong số 1072 ngày 23/7/2025 của Phòng K Công an Công an thành phố H; 02 ống thủy tinh một đầu hình trụ tròn, đầu còn lại hình phễu dùng để sử dụng ma tuý; 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, một đầu cắt chéo dùng để xúc ma túy; 02 gói nylon không chứa gì; 01 kéo kim loại 01 bóp da màu đen.
Trả lại cho bị cáo C số tiền 90.000 đồng.
- Bùi Thị C, Huỳnh Thanh T không tranh luận về tội danh, mức hình phạt chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của nhân chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 16/7/2025, tại quán C2 thuộc tổ A khu phố P, phường T, thành phố Hồ Chí Minh, Bùi Thị C bị bắt quả tang đang tàng trữ 14 gói nylon hàn kín được cất giấu trong bóp da màu đen, qua giám định có khối lượng 6,1312 gram ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích vừa sử dụng, vừa để bán lại kiếm lời. Ngoài ra, qua điều tra xác định trong tháng 7/2025, Bùi Thị C đã bán ma túy 02 lần cho Lâm Chí C1 và 01 lần cho Huỳnh Thanh T, cụ thể:
- Vào đầu tháng 7/2025, tại quán cà phê Hoài T2, C bán cho Lâm Chí C1 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng.
- Vào ngày 12/7/2025, tại quán C2, C bán cho Lâm Chí C1 01 gói ma túy với giá 1.700.000 đồng.
- Ngày 10/7/2025, tại quán C2, C bán 01 gói ma túy cho Huỳnh Thanh T với giá 300.000 đồng.
Như vậy, hành vi của Bùi Thị C đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Đối với Huỳnh Thanh T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 129/QĐ-UBND ngày 13/6/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P. Vào các ngày 10/7/2025 và ngày 31/8/2025, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, qua giám định tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của T.
Như vậy, hành vi của Huỳnh Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - thành phố Hồ Chí Minh.
[3]
Về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm đến quy định của nhà nước về quản lý độc quyền chất gây nghiện mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, làm nguy cơ phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo C:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Tuy nhiên, xem xét bị cáo có nhân thân xấu, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau đó bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, để có tiền sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân bị cáo đã mua ma túy về bán lại cho các con nghiện, làm nguy cơ phát sinh nhiều tội phạm khác. Đây cũng là tình tiết Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Đối với bị cáo T:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) “phạm tội nhiều lần”. Ngoài ra, còn xem xét bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng sau đó bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Nên cần có mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]
Về hình phạt bổ sung:
Đối với Bùi Thị C: Áp dụng Khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025, phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Đối với Huỳnh Thanh T: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6]
Các vấn đề khác:
Đối với hành vi của Bùi Thị C sử dụng trái phép chất ma túy: Qua xác minh, C chấp hành xong Quyết định số 71/2023/QĐ-TA ngày 17/6/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh) ngày 06/5/2024 nhưng không trình diện tại địa phương nên UBND không lập hồ sơ và ra Quyết định quản lý sau cai tại nơi cư trú đối với C theo quy định. Do đó không có căn cứ để xử lý C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đối với Lâm Chí C1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành công văn đề nghị UBND phường T xem xét xử phạt hành chính theo quy đinh.
Đối với người đàn ông tên B1 là người đã bán ma túy cho T chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý theo quy định.
Đối với người đàn ông tên P đã bán ma túy cho Bùi Thị C chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Quá trình điều tra Cúc cung cấp số điện thoại của P khi liên hệ giao dịch mua ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành Yêu cầu số H1913/YC-CSMT ngày 24/7/2025 yêu cầu Tập đoàn V cung cấp thông tin liên quan đến thuê bao 0862.622.062 nhưng đến nay chưa có kết quả. Ngày 10/11/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến P để tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý theo quy định.
[7]
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì được niêm phong số 1072 ngày 23/7/2025 của Phòng K Công an Công an thành phố H bên trong có chứa ma túy sau giám định nên tịch thu tiêu hủy.
- 02 ống thủy tinh một đầu hình trụ tròn, đầu còn lại hình phễu dùng để sử dụng ma tuý, 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, một đầu cắt chéo dùng để xúc ma túy; 02 gói nylon không chứa gì; 01 kéo kim loại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A58, màu xanh lam, số Emei 1: 864818063059778, số Emei 2: 864818063059778 của C dùng liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 bóp da màu đen không còn giá trị sử dụng nên tích thu tiêu hủy.
- Truy thu Bùi Thị C số tiền 2.300.000 đồng bị cáo đã bán ma túy cho Lâm Chí C1, Huỳnh Thanh T.
- Tạm giữ số tiền 2.390.000 đồng (Hai triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng) của Bùi Thị C để đảm bảo thi hành án.
[8]
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố Bùi Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Huỳnh Thanh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: điểm b, i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt Bùi Thị C 09 (Chín) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/7/2025.
2. Áp dụng: điểm b Khoản 1 Điều 256a, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt Huỳnh Thanh T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2025.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
Phạt bị cáo Bùi Thị C 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1072 ngày 23/7/2025 của Phòng K Công an Công an thành phố H; 02 ống thủy tinh một đầu hình trụ tròn, đầu còn lại hình phễu; 01 đoạn ống nhựa hàn kín một đầu, một đầu cắt chéo; 02 gói nylon không chứa gì; 01 kéo kim loại, 01 bóp da màu đen của Bùi Thị C.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh lam, số Emei 1: 864818063059778 của Bùi Thị C.
Truy thu bị cáo Bùi Thị C 2.300.000 đồng (Hai triệu, ba trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Số vật chứng trên đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 26/BB-THADS (12) ngày 01/12/2025.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.390.000 đồng (Hai triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng) của Bùi Thị C theo Biên lai thu số 0010441 ngày 01/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo thi hành án.
5. Về án phí: Bùi Thị C, Huỳnh Thanh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 12 – TP. HCM; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - PV 06 - Công an TP. Hồ Chí Minh; - PC 01 - Công an TP. Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thảo Nguyên |