- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Đ tranh chấp hợp đồng vay với bà Phạm Thị T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2024/DS-ST Ngày: 30/09/2024 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều
2. Ông Phan Văn Dân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 137/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 276/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Đại diện theo uỷ quyền của bà Đ: Ông Trần Văn N, sinh năm 1968, theo Giấy uỷ quyền ngày 30/9/2024 (Có mặt)
Nơi cư trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Nơi đăng ký thường trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
Nơi ở hiện tại: Số B, đường T, tổ B, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai của nguyên đơn cùng ngày 02/7/2024, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thể hiện:
Do có mối quan hệ quen biết và tin tưởng, vào ngày 12/8/2022 âl bà Đ có cho bà Phạm Thị Thanh M số tiền 500.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh mua bán tại chợ C, cần tiền để mua hàng chuẩn bị bán Tết khi nào cần thì báo cho bà T sẽ lo tiền trả lại. Khi vay bà T có tự viết và ký “Giấy mượn tiền” trước mặt bà Đ và đưa cho bà giữ. Toàn bộ chữ viết và chữ ký trong Giấy mượn tiền là của bà T. Riêng tại dòng thứ 5 từ trên xuống của Giấy mượn tiền bà Đ có sửa lại ngày từ 17/9 thành 12/8 để đúng theo ngày bà T mượn tiền là 12/8/2022 âl. Về nội dung trong biên nhận thể hiện “bà Nguyễn Thị Đ sinh năm 1964, ấp T, xã V huyện C” là do bà T ghi nhầm, địa chỉ của bà Đ là ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Về lãi suất tiền vay, trong biên nhận không thể hiện lãi suất nhưng hai bên tự thỏa thuận miệng bên ngoài là mỗi tháng 5.000.000 đồng. Từ khi vay tiền cho đến nay bà T có trả cho bà Đ được khoảng 5 tháng tiền lãi, mỗi tháng 5.000.000 đồng. Sau đó qua Tết bà Đ yêu cầu bà T trả lại số tiền đã mượn, bà T hứa đến rằm tháng hai âm lịch năm 2023 trả lại nhưng khi đến hẹn thì bà T đều năn nĩ và khất nợ lại không trả vốn và cũng không tiếp tục đóng lãi nữa, kéo dài cho đến nay không thanh toán cho bà Đ thêm được khoản nào.
Theo Đơn khởi kiện ngày 02/7/2024 bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị T phải trả cho số tiền vốn vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả theo thoả thuận. Đến ngày 28/8/2024 bà Đ có Đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về lãi suất, bà Đ chỉ yêu cầu bà T trả 1 lần số tiền vốn là 500.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn – Bà Phạm Thị T: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đến nhà để ghi lời khai nhưng bà T vắng mặt tại nhà nên không ghi được ý kiến của bà T.
Tại phiên tòa:
- Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu bà T trả 1 lần số tiền vốn là 500.000.000 đồng cho bà Đ, không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn: Vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
+ Việc chấp hành pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi chậm trả là hoàn toàn tự nguyện, do dó đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu tính lãi; Đối với yêu cầu của bà Đ về việc bà T phải trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà Đ số tiền là 500.000.000 đồng. Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Đ yêu cầu bà T trả số tiền còn nợ là số tiền 500.000.000 đồng do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay. Bà T có nơi cư trú tại khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp về hợp đồng dân sự, cụ thể là Hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.2 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là bà Thanh vắng M1, xét thấy bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ công khai các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng bà T đã vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T.
Về nội dung tranh chấp:
Bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà vắng mặt không rõ lý do cũng như không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Do đó, bà đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ nội dung của Biên nhận mượn tiền ngày 12/8/2022 âl, số tiền mượn 500.000.000 đồng thể hiện có chữ ký và chữ viết họ tên của bà Phạm Thị T ở phần người nhận tiền. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn với bị đơn có xác lập hợp đồng vay tài sản với số tiền vay là 500.000.000 đồng. Xét hình thức và nội dung của các Biên nhận vay tiền xuất phát từ sự tự nguyện và không trái quy định của pháp luật, nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo thỏa thuận khi nào bà Đ cần và báo thì bà T có nghĩa trả lại cho bà Đ số tiền vay nhưng bà đã không thực hiện, việc vi phạm nghĩa vụ của bà T đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ. Do đó, việc bà Đ yêu cầu bà T phải trả một lần số tiền vốn vay 500.000.000 đồng còn nợ là có cơ sở, căn cứ Điều 463, Điều 466, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà Đ số tiền 500.000.000 đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.
Xét về yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Trong Đơn khởi kiện bà Đ yêu cầu bà T phải trả lãi theo và tiền lãi chậm trả theo thoả thuận. Tuy nhiên, vào ngày 28/8/2024 và tại phiên tòa hôm nay đại diện của nguyên đơn xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi chậm trả. Xét thấy, việc rút yêu cầu về tính lãi suất của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Đ được chấp nhận nên bà không phải chịu án phí, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bà Đ và bà T có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
1.1. Buộc bà Phạm Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 500.000.000 (Năm trăm triệu đồng).
1.2. Kể từ ngày có Đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với bà Phạm Thị T về yêu cầu tính lãi.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Buộc bà Phạm Thị T phải chịu 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Đ thuộc trường hợp người cao tuổi và có Đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
4. Quyền kháng cáo:
- Bà Nguyễn Thị Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/09/2024).
- Bà Phạm Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS Châu Thành; - THA Châu Thành; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Trinh |