vanban.org

Bản án 121/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 11/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q phạm tội “Giết người”.

Tịch thu, tiêu hủy: 04 thanh kiếm, 01 côn nhị khúc, 01 dao quắm, 01 lưỡi dao phóng lợn (dao bầu); mẫu tóc còn lại sau giám định thu của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Khánh D, Dương Tiến Q, Phạm Phi N và Nguyễn Văn Q (Q Bin); 01 chiếc quần vải thô và 01 đôi dép lê, màu xanh cũ của Nguyễn Văn Q. Tịch thu, sung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Phi N và đồng phạm có hành vi giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HS-ST
Ngày 11 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Bích Liên, Giáo viên nghỉ hưu;

Bà Đỗ Thị Kim Thúy, Giáo viên nghỉ hưu;

Ông Nguyễn Quang Bằng, Giáo viên nghỉ hưu;

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hiệp, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phạm Phi N, sinh ngày 21/4/2007; nơi sinh: Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: Tổ dân phố 3 T, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành Hưng và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/8/2021, Phạm Phi N có hành vi đánh nhau tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 14/4/2022, Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC đối với Phạm Phi N bằng hình thức cảnh cáo. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).

2. Dƣơng Tiến Q, sinh ngày 13/02/2005; nơi sinh: Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi thường trú: Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Đào Thị M; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 22/8/2021, có hành vi Gây rối trật tự công cộng tại phường K, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nên tại bản án số 67/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã tuyên phạt bị cáo Dương Tiến Q 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).

3. Nguyễn Văn Q (tên thường gọi: Q Bin), sinh ngày 03/8/2006; nơi sinh: Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Đỗ Thị H; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/8/2021, Nguyễn Văn Q có hành vi đánh nhau tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 14/4/2022, Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn Q bằng hình thức cảnh cáo. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2023 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Phi N là: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987, (có mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Q là: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1979, (có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Phi N và bị cáo Nguyễn Văn Q là: Bà Nguyễn Thị Kim Q - Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: Đường P, phường T, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Dương Tiến Q là: Bà Lê Thị V - Luật sư Công ty Luật TNHH K thuộc đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: Số 3, phố Q, phường Đ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

- Bị hại:

+ Cháu Nguyễn Hữu N, sinh ngày 11/8/2007; (có mặt).

Người đại diện của cháu N: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn H 3, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N là: Ông Lê Văn D – Trợ giúp viên pháp lý của T tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/01/2006; (có mặt).

Người đại diện của cháu D: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn H 3, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Việt A, sinh ngày 24/01/2007; (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Việt A là: Chị Dương Thị L, sinh năm 1983; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Trần Quang H, sinh ngày 05/9/2006; (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Quang H là: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1972; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Anh Cao Quang Q, sinh ngày 11/5/2005; (có mặt).

Địa chỉ: Thôn T 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc

+ Cháu Hà Đình Q, sinh ngày 05/6/2006; (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Hà Đình Q là: Anh Hà Đình K, sinh năm 1977; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T 2, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Vũ D, sinh ngày 02/8/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Vũ D là: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T 4, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Duy T, sinh ngày 19/02/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Duy T là: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn N 2, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Tô Văn H, sinh ngày 21/02/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Tô Văn H là: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn Y 1, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Tiến D, sinh ngày 29/9/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Tiến D là: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1968; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn N 3, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Anh Nguyễn Duy A, sinh ngày 18/3/2004 và chị Đồng Thị M, sinh năm 1981; (đều vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Văn A, sinh ngày 12/12/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Văn A là: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn Y 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Văn G, sinh ngày 13/11/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Văn G là: Chị Tô Thị T, sinh năm 1986; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn Y 1, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/01/2006; (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Thị H là: Bà Lê Thị T, sinh năm 1981; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người làm chứng:

+ Cháu Dương Đức M, sinh ngày 16/12/2006; (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Dương Đức M là: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Anh Nguyễn Văn Q (Q Bê), sinh ngày 13/5/2005; (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Tô Hoàng H, sinh năm 02/7/2006; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Tô Hoàng H là: Anh Tô Trọng T, sinh năm 1980; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn B 1, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 24/3/2007; (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Minh Đ là: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1980; (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn H 1, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 01/8/2007; (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Quang H là: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1984; (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn H 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 4/2022, tháng 5/2022 Phạm Phi N, sinh ngày 21/4/2007 cùng một số đối tượng khác có xích míc với Tô Thế Q, sinh ngày 15/5/2007 và Trần N T, sinh ngày 23/10/2007 trú tại xã Đ, huyện Y. Sau khi dàn hòa thì Trần N T vẫn sử dụng tài khoản Facebook có tên “Phùng Minh T” nhắn tin chửi, xúc phạm N nên N, T tiếp tục mâu thuẫn, thách thức hẹn đánh nhau. Buổi tối ngày 01/6/2022, N cùng với Dương Đức M, Trần Thị P, Nguyễn Văn Q (Q Bin) và Nguyễn Duy C, sinh năm 2003 trú tại thôn M, xã Y, huyện Y, Bùi Quang T, sinh ngày 30/10/2006, trú tại thôn C, xã B, huyện Y đang uống nước tại quán Trà Chanh 86 ở xã T N thì Tô Văn H, sinh ngày 21/02/2006, trú tại thôn Y 1, xã Đ, huyện Y đến bảo nhóm của N: “Thằng Phùng Minh T đang ở cổng trường Đ” thì N rủ cả nhóm đi lên xã Đ để đánh Phùng Minh T, cả nhóm đồng ý, riêng Trần Thị P không đi mà ở lại quán Trà Chanh. Khi đi đến đoạn cầu Đ thuộc xã Đ thì nhóm của N bị nhóm ở Đ (không xác định được là ai) ném vỏ chai bia nhưng không trúng ai. N bực tức bảo cả nhóm đi về lấy kiếm để đánh nhóm này. N cùng với Thường, M đi về nhà của N do bố mẹ N thuê để ở thuộc thôn Cung Thượng, xã B, huyện Y lấy 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 52cm, thân kiếm dài 40cm, chuôi kiếm dài 12cm hình vòng cung, chỗ rộng nhất của thân kiếm là 3,5cm (dạng kiếm hải tặc) còn Nguyễn Văn Q (Q Bin) và C đi đến nhà của Dương Tiến Q, sinh ngày 13/02/2005, trú tại tổ dân phố 2 thôn Đông, Thị trấn Y, huyện Y để lấy kiếm. Sau đó cả nhóm tập T tại cổng Trường T học phổ thông Đ thuộc địa phận xã T N, huyện Y, thì M gọi điện thoại qua Messenger trao đổi với Nguyễn Văn Q (Q Bin) thì Q Bin bảo với M là Dương Tiến Q không có kiếm nên M bảo Q Bin và C là đi ra Trường THPT Đ cùng cả nhóm. Sau đó, M tiếp tục gọi điện thoại rủ nhóm của Tô Văn H cùng đi đánh nhau thì H đồng ý. Khi nhóm của N đi đến đoạn ngã tư khu đô thị đang xây dựng thì nhóm của Tô Văn H đi đến, trong đó có Lê Kim N, sinh ngày 20/3/2006, HKTT: Khu 8, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đang trú tại thôn Y 1, xã Đ, huyện Y. N thấy N cầm 01 chiếc côn nhị khúc nên N hỏi mượn để đi đánh nhau thì N đồng ý, đưa cho N. Sau đó, nhóm của N đi vào trong thôn Đ để tìm nhóm vừa ném vỏ chai bia vào nhóm của N lúc trước nhưng không tìm thấy nên cả nhóm N tiếp tục đi đến khu vực cổng Trường THCS P. Khi đến nơi thì nhóm của N gặp nhóm thanh niên, gồm có: Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/01/2006; Nguyễn Hữu N, sinh ngày 11/8/2007; Nguyễn Quang H, sinh ngày 01/8/2007; Tô Hoàng H, sinh ngày 02/7/2006; Trần Văn D, sinh ngày 14/6/2004 đều trú tại xã Đ, huyện Y. N hỏi nhóm này: “Chúng mày vừa ném chai bia tao à?” thì nhóm này bảo không phải. N xuống xe cầm côn nhị khúc vụt 02 phát trúng vào bả vai trái của Duy vì cho rằng Duy là người ném vỏ chai bia nhưng N nói: “Bạn của tôi, không phải nó” và giằng luôn chiếc côn N đang cầm. N không đánh Duy thêm phát nào nữa và cùng cả nhóm đi về, đến đoạn ngã tư xã T N, gần trường THPT Đ thì N đưa kiếm cho C nhờ đem về nhà C cất hộ. Sau đó, C lái xe chở N ra quán CyBer Game ở Thị trấn Y để chơi điện tử, còn C cầm kiếm đem về nhà C cất giữ. Tại quán điện tử này, N thấy Dương Tiến Q đang ngồi chơi điện tử nên N chơi điện tử cùng với Dương Tiến Q. Đến khoảng 00 giờ 00’ ngày 02/6/2022, Nguyễn Khánh D sử dụng tài khoản Facebook “N Nguyễn” của Nguyễn Hữu N nhắn tin đến tài khoản Facebook của N là “Phạm Phi N” với nội dung là N đánh nhầm người thì N nhắn tin lại khiêu khích và hẹn đánh nhau vào lúc 20 giờ ngày 02/6/2022 tại cổng trường THCS P. Lúc này, Dương Tiến Q đứng cạnh N và biết việc N và Duy nhắn tin hẹn đánh nhau. Sau khi hẹn đánh nhau với Duy xong, N rủ Dương Tiến Q đến tối ngày 02/6/2022 lên xã Đ đánh nhau cùng, đồng thời N nhắn tin thông báo cho M biết việc N vừa nhắn tin hẹn nhóm Đ 20 giờ tối ngày 02/6/2022 lên đánh nhau và bảo M rủ thêm người. Sau đó, N chơi điện tử cho đến khoảng 10 giờ ngày 02/6/2022 thì N gọi cho Nguyễn Thị H- Sinh ngày 15/01/2006 trú tại xã Y, huyện Y là bạn gái của N đến đón N về nhà ở tại thôn Cung Thượng, xã B, huyện Y ngủ.

Sau khi được N thông báo cho biết việc hẹn đánh nhau với nhóm Duy ở xã Đ thì khoảng 18 giờ ngày 02/6/2022, M nhắn tin rủ Cao Quang Q- Sinh ngày 11/5/2005 trú tại thôn Tam Kỳ 2, xã Đại Tự, huyện Y đi lên xã Đ đánh nhau, Cao Quang Q đồng ý. M bảo Cao Quang Q có kiếm thì 20 giờ cùng ngày cầm lên vòng xuyến Y thuộc xã B, huyện Y để đánh nhau. Sau đó M tiếp tục nhắn tin qua Messenger rủ Nguyễn Việt A- Sinh ngày 24/01/2007 trú tại Thị trấn Y, huyện Y với nội dung bảo Việt A qua đón M lên xã Đ để đánh nhau, Việt A đồng ý và nhắn tin lại: “Chờ ăn cơm đã”. Sau khi ăn cơm xong, Việt A nhắn tin lại cho M: “Ra cổng đi”, rồi Việt A điều kH xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu đen, BKS: 88F1 - 589.78 của chị Dương Thị Lý, trú tại tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y (chị Lý là mẹ của Việt A) đến đón M. Khi gặp nhau, M bảo Việt A là đi đón N. Việt A điều kH xe máy chở M đi đón N tại thôn Cung Thượng, xã B, huyện Y. Khi đến cổng nhà N thấy trong nhà tắt điện, cổng đóng khóa, lúc này N vẫn đang nằm ngủ trong nhà. Việt A và M gọi to: “N ơi, N ơi”, một lúc sau thì N dậy đi ra mở cổng. M bảo N: “Thế không đi đánh nhau à”, N trả lời: “Có, tao ngủ quên mất, chúng mày gọi gì mà gọi to thế”, rồi N lên xe ngồi sau cùng. Việt A điều kH xe chở M và N đi đến vòng xuyến Y. Trên đường đi, M có nói cho Việt A và N biết việc Tô Thế Q nhắn tin qua Messenger bảo M là nhóm thanh niên trên xã Đ có bom xăng với dao phóng lợn, N bảo là kệ chúng nó, N hỏi Việt A và M là: “Không mang theo đồ gì à” (tức không mang theo hung khí dao, kiếm,...), M và Việt A đều trả lời là không có. N bảo M là: “Thế thì gọi ai mượn đồ đi”, rồi M gọi điện thoại qua Messenger cho Nguyễn Văn Q (thường gọi là Q Bê) - Sinh ngày 13/5/2005 trú tại thôn Chùa, xã Y, huyện Y rủ đi lên xã Đ đánh nhau và bảo có kiếm thì cầm đi lên vòng xuyến Y, Q (Q Bê) đồng ý. Sau đó, M bảo N xuống nhà Nguyễn Duy C lấy thanh kiếm dài 52cm, chuôi kiếm có tay cầm hình vòng cung của N gửi C trước đó.

Sau khi được M rủ đi đánh nhau thì Cao Quang Q đã nhắn tin Messenger rủ Nguyễn Tiến D- Sinh ngày 29/9/2006, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y đi chơi, D đồng ý rồi điều kH xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha BKS là 88F1 - 562.73 nhưng không lắp BKS của bố D là ông Nguyễn Văn Bình- SN: 1968 đến đón Cao Quang Q. Khi D đến thì Cao Quang Q đi đến đống gạch ở đầu ngõ lấy ra 01 thanh kiếm (dài 82cm, mũi kiếm vát nhọn, kiếm màu sáng trắng, chuôi kiếm hình tròn, phần lưỡi kiếm được cuốn chặt bằng giẻ màu đen, trắng) mà Cao Quang Q đã cất giấu từ trước. D hỏi: “Đi chơi uống nước mang theo kiếm làm gì?” thì Cao Quang Q bảo: “Lên Minh Tân có việc”, D hiểu ý là cầm kiếm đến Thị trấn Y để đánh nhau nên không nói gì thêm. Trên đường đi thì Cao Quang Q bảo với D đi lên vòng xuyến Y rồi Cao Quang Q gọi điện thoại qua Messenger cho Hà Đình Q, sinh ngày 05/6/2006, trú tại thôn T 2, xã L, huyện Y rủ đi đánh nhau và bảo có ai gọi thêm đi cùng, Quang đồng ý. Lúc này, Quang đang ngồi uống nước tại quán trà chanh Lối Nhỏ ở xã L, huyện Y cùng với Nguyễn Duy T- Sinh ngày 19/02/2006, Nguyễn Vũ D, sinh ngày 02/8/2006 đều trú tại xã L, huyện Y nên Quang rủ Toàn và Duy đi đánh nhau thì cả hai đều đồng ý. Nguyễn Văn Q (Q Bê) sau khi được M rủ đi đánh nhau thì Q Bê rủ Nguyễn Duy A, sinh ngày 18/3/2004 trú tại xã Y, huyện Y lúc này đang ngồi chơi tại nhà Q Bê đi đánh nhau cùng thì An đồng ý và điều kH xe mô tô Honda Wave anpha màu đen- bạc, BKS: 88F1-583.11 của An chở Q Bê ngồi sau, cầm theo 01 thanh kiếm tự chế dài 96cm, mũi kiếm vát nhọn, chuôi kiếm bằng kim loại dạng bẹt được cuốn băng dính màu đen, lưỡi kiếm được quấn xung quanh bằng áo dài tay loại áo chống nắng. Khi An và Q Bê đi qua tỉnh lộ 304 đoạn đường thuộc thôn Yên Tâm, xã Y thì gặp Tạ Tiến Thành- Sinh ngày 06/8/2004, trú tại thôn Yên Tâm, xã Y, huyện Y đang đứng ở ven đường, Q Bê bảo Thành: “Đi đánh nhau không?” thì Thành đồng ý và điều kH xe máy Honda Wave anpha màu xanh, không lắp cánh yếm, không lắp biển kiểm soát đi theo An và Q Bê. Lúc này, tại vòng xuyến Y, Việt A bảo M: “Thằng Thường đâu, hỏi nó xem nó đi không” thì M nhắn tin rủ Bùi Quang T đi đánh nhau; Thường đồng ý và bảo là không có xe thì M bảo Việt A điều kH xe đi đón Thường. Khi M đang đứng ở vòng xuyến Y thì Nguyễn Tiến Đ- Sinh ngày 15/01/2006 trú tại tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y gọi điện qua Messenger cho M hỏi M đang ở đâu để rủ M đi chơi, M trả lời đang ở vòng xuyến Y nên Đạt điều kH xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88F1-372.23 một mình đi đến. Sau đó M tiếp tục gọi điện thoại qua Messenger rủ Tô Văn H và Trần Quang H, sinh ngày 05/9/2006, trú tại thôn L, xã T, huyện Y đi lên Đ đánh nhau thì H và Huy đều đồng ý. Một lúc sau, D điều kH xe chở Cao Quang Q cầm theo 01 thanh kiếm tự chế, An điều kH xe chở Q Bê cầm theo 01 thanh kiếm tự chế đi đến. Sau đó, N cùng với Việt A đi đón Dương Tiến Q. Khi Việt A chở N, Dương Tiến Q đến vòng xuyến thì gặp Nguyễn Tiến Đ đến. Đạt đến chỗ M đang ngồi trên đống gỗ hỏi M là đi đâu thì M rủ Đạt đi lên xã Đ đánh nhau, Đạt đồng ý và nói với mọi người: “Xe tao gần hết xăng sợ tí đi đánh nhau không chạy được, cho thằng nào về đón tao” thì M bảo Việt A đi về theo Đạt. Sau khi cùng Đạt về nhà Đạt cất xe, Việt A chở Đạt quay lại vòng xuyến Y, lúc này có N, Việt A, Dương Tiến Q, Nguyễn Văn Q (Q Bê), Cao Quang Q, M, Thường, D, An, Thành, Toàn và Duy thì N nói với mọi người: “Tý lên mà gặp bọn nó lao vào đánh luôn, chúng bay đừng chạy, chạy thì tốt nhất ở nhà cho đỡ chật xe”, Dương Tiến Q cũng nói: “Phạt nó, hôm nay tao phải chém được một thằng, tao mà bắt được chúng nó tao chém chết”, M nói tiếp: “Chúng nó có bom xăng với phóng lợn đấy”, “Địt mẹ mày, hôm nay lên chém chết mẹ chúng nó đi”. Sau đó, M nhắn tin qua Messenger rủ Nguyễn Văn Q (Q Bin) cầm theo 01 thanh kiếm của Cao Quang Q mà M đưa cho Q (Q Bin) cất giấu trong đống gỗ gần nhà Q (Q Bin) từ trước để đi đánh nhau ở xã Đ, Q (Q Bin) đồng ý rồi M bảo Việt A tiếp tục đi đón Q (Q Bin). Lúc này, N bảo Q (Q Bê) chở N xuống nhà Nguyễn Duy C để lấy kiếm (mà N gửi C cất hôm trước) nhưng do Q (Q Bê) không có xe nên An chở N đi. Khi đến đầu ngõ nhà C thì N một mình đi vào trong nhà C lấy kiếm còn An đợi ở ngoài. N lấy được kiếm xong thì N rủ C đi đánh nhau nhưng C không đồng ý. Khoảng 05 phút sau, N cầm 01 thanh kiếm (dạng kiếm hải tặc) ra. Khi ngồi lên xe thì N cởi áo phông cộc tay N đang mặc trên người ra để quấn quanh thanh kiếm, rồi An chở N quay về vòng xuyến Y. Khi về gần đến nơi thì gặp Việt A chở Q (Q Bin) cầm kiếm ngồi sau đi cùng chiều. Tại vòng xuyến Y, N bảo với Q (Q Bin): “Chúng nó có bom xăng với phóng lợn đấy bạn ạ”, Q (Q Bin) nói: “Chúng nó có dám ném đéo đâu, hay lại bật vào tường chạy như lần trước”, N nói với cả nhóm: “Tí nữa gặp chúng nó thì lao vào mà đánh, đừng có ai chạy”, cả nhóm đều đồng ý. Q (Q Bin) cầm thử kiếm của Cao Quang Q mang đến thấy cầm chắc tay nên cầm luôn thanh kiếm này và đưa kiếm của mình cho Dương Tiến Q cầm, còn Cao Quang Q thì cầm 01 thanh kiếm tự chế dài 96cm, mũi kiếm vát nhọn, chuôi kiếm bằng kim loại dạng bẹt được cuốn băng dính màu đen của Q (Q Bê) đem đến.

Sau khi được M rủ đi đánh nhau thì lúc này Tô Văn H, Trần Quang H đang ngồi chơi tại nhà Kim Đình Đ- Sinh ngày: 09/10/2006 cùng với Đỗ Tiến Đ, sinh ngày 18/11/2006, Nguyễn Văn G, sinh ngày 13/11/2006, Nguyễn Văn A, sinh ngày 12/12/2006 đều trú ở xã Đ, huyện Y và Nguyễn Minh T, sinh ngày 24/11/2006, Nguyễn Đức C, sinh ngày 06/8/2006 đều ở xã T, huyện Y. H bảo cả nhóm đi xuống vòng xuyến Y để cùng với nhóm của Phạm Phi N đi đánh nhau thì tất cả đều đồng ý. Sau đó, Đạt điều kH xe Honda Dream BKS: 88F9-4001 chở Huy ngồi sau đi đến nhà Lê Kim N mượn chiếc côn nhị khúc của N để đi đánh nhau. H điều kH xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 88H3-0789 của bố H (là anh Tô Văn Hiền) chở Đức, Giỏi ngồi sau; Nguyễn Văn A điều kH xe Honda Wave màu đen, bạc, BKS: 88F1- 586.62 của mẹ Anh (là chị Kim Thị Hạnh) chở Cường, Tùng ngồi sau. Khi cả nhóm đi đến vòng xuyến Y thì thấy nhóm của N đang tụ tập tại đây. N đến chỗ nhóm Tô Văn H và hỏi cả nhóm: “Chúng bay đi đánh nhau không mang theo đồ à?”, H nói: “Thôi tí chúng tao nhặt gạch”, N hỏi tiếp: “Cái côn hôm qua của thằng N đâu, đưa tao mượn” thì Huy đưa chiếc côn nhị khúc cho N, xem xong một lúc thì N đưa lại côn này cho Huy cầm. Sau đó N đi về phía nhóm của Việt A, M đang đứng thì Dương Tiến Q nói: “Hôm nay tôi phải phạt nó”, N bảo: “Hôm nay tao bắt được thằng Phùng Minh T thì tao chém chết nó” và nhắc cả nhóm: “Chúng nó mà chạy vào trường thì tất cả bật tường vào chém bằng được” rồi bảo cả nhóm xuất phát đi đánh nhau kẻo muộn.

Cả nhóm khi chuẩn bị đi, N bảo Việt A sang ngồi xe khác còn N điều kH xe mô tô của Việt A chở Q (Q Bin), Dương Tiến Q. N đưa kiếm của N cho Dương Tiến Q cầm còn N điều kH xe Honda wave màu đen, BKS: 88F1 - 589.78 của Việt A chở Dương Tiến Q cầm 02 kiếm tự chế ngồi giữa và Q (Q Bin) cầm 01 kiếm tự chế ngồi sau cùng. Toàn điều kH xe mô tô BKS: 88F1 - 568.79 chở Thường ngồi giữa, Việt A ngồi sau cùng; D điều kH xe mô tô BKS: 88F1- 562.73 chở M ngồi giữa, Cao Quang Q cầm theo 01 thanh kiếm tự chế dài 96cm ngồi sau cùng; An điều kH xe mô tô BKS: 88F1 - 583.11 chở Q (Q Bê); Nguyễn Văn A điều kH xe mô tô BKS: 88F1 - 588.62 chở Nguyễn Đức C ngồi giữa, Nguyễn Minh T ngồi sau cùng; Tô Văn H điều kH xe mô tô BKS: 88H3 - 0789 chở Kim Đình Đ ngồi giữa, Nguyễn Văn G ngồi sau cùng; Đỗ Tiến Đ điều kH xe mô tô BKS: 88F9 - 4001 chở Trần Quang H ngồi giữa, Nguyễn Tiến Đ ngồi sau cùng; Nguyễn Vũ D điều kH xe mô tô BKS: 88F1 - 4871 chở Hà Đình Q ngồi sau; Thành điều kH xe Honda Wave Anpha màu xanh đi một mình. Khi cả nhóm lên xe bắt đầu đi lên xã Đ đánh nhau thì Dương Tiến Q nói: “Hôm nay phải phạt chết nó”, Q (Q Bin) nói: “Hôm nay tao cũng phải bổ bằng được nó”. Trên đường đi thì xe N đi đầu tiên, các xe khác đi phía sau. Khi cả nhóm đi qua khu vực cổng Trường THPT Đ có một số kiêu gạch xếp ở ven đường bên phải nên cả nhóm dừng xe lại, trong đó Kim Đình Đ, Nguyễn Văn G, Nguyễn Minh T, Nguyễn Đức C, Nguyễn Tiến Đ, Đỗ Tiến Đ, Trần Quang H, Nguyễn Duy A, Q (Q Bê), Bùi Quang T, Nguyễn Việt A, Hà Đình Q xuống nhặt các viên gạch vỡ nửa rồi chia cho nhau cầm làm vũ khí. N lái xe chở Dương Tiến Q và Q (Q Bin) đi trước, khi cả nhóm dừng lại nhặt gạch thì N đi chậm lại để chờ. Sau đó cả nhóm tiếp tục đi đến đoạn cầu Đ thì Huy đưa côn cho Giỏi cầm. Xe của N đi trước đến khu vực ngã tư thôn H (đoạn đường đi qua cổng UBND xã Đ) thì thấy nhóm của Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N đang đứng tụ tập ở khu vực cổng Trường THCS P, lúc này các xe khác trong nhóm của N đi phía sau đang đến gần cổng nghĩa trang liệt sỹ xã Đ, N quay xe lại và bảo với cả nhóm: “Chúng nó kia rồi, nếu chúng nó chạy vào trường tất cả bật tường vào mà đánh chém bằng được”, cả nhóm đồng ý, không ai nói gì rồi đi về phía UBND xã Đ. Lúc này, nhóm của Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N, gồm có: Duy, N, Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/3/2007, Nguyễn Đức T, sinh ngày 18/10/2004, Tô Hoàng H, sinh ngày 02/7/2006, Nguyễn Quang H, sinh ngày 01/8/2007, Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 24/3/2007, Phùng Văn M, sinh ngày 06/5/2007, Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 01/11/2006, Nguyễn Văn L, sinh ngày 01/01/2007 đều trú tại xã Đ, huyện Y đang đứng tại khu vực cổng Trường THCS P. Khi nhìn thấy nhóm của N đi đến có đông người và xe thì nhóm của Duy, N hoảng sợ, bỏ chạy vào phía trong cổng trụ sở UBND xã Đ, Nhà văn hóa xã Đ... Nhóm của N đi qua cổng trụ sở UBND xã Đ thì N bảo cả nhóm quay lại rồi N điều kH xe chở Q (Q Bin), Dương Tiến Q quay lại dồn đuổi theo xe mô tô của Phùng Văn M đang đi từ phía cổng trụ sở UBND xã Đ ra. Lúc này, Kim Đình Đ và Tô Văn H đều nói khu vực cổng trụ sở UBND xã Đ có Công an nên số đối tượng còn lại trong nhóm N đi phía sau xe N tiếp tục đi thẳng mà không quay lại theo xe của N nữa. Sau đó, Nguyễn Văn A chở Tùng và Cường đi về nhà Đức để lấy xe đi về nhà do C và T bị mẹ gọi về, các xe còn lại đi thẳng hướng qua cánh đồng đến ngã tư khu dân cư thuộc thôn Đ, xã Đ thì rẽ trái đi thẳng ra đường QL2C, rồi vòng quay lại vào đường đi trụ sở UBND xã Đ để tìm xe của N.

N điều kH xe đèo phía sau là Dương Tiến Q và Q (Q Bin) đuổi theo xe của Phùng Văn M đến thôn Đ, xã Đ thì không đuổi kịp nên N dừng xe lại, Dương Tiến Q và Q (Q Bin) xuống xe đổi chỗ, Q (Q Bin) ngồi giữa, Dương Tiến Q ngồi sau cùng. N tiếp tục điều kH xe mô tô chở Q (Q Bin) và Dương Tiến Q quay lại, khi đến khu vực gần ngã tư thôn H thì nhóm N nhìn thấy Duy, N, Hậu, Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Quang H. Nhóm của Duy, N chạy vào đường ngõ gần đó. Lúc này, Dương Tiến Q xuống xe 02 tay cầm theo 02 thanh kiếm tự chế chạy bộ, còn N tiếp tục điều kH xe chở Q (Q Bin) đuổi theo D, N thì N chạy nấp vào ngõ gần đó. D chạy thẳng va vào cổng của một nhà dân nên bị ngã. N điều kH xe chở Q (Q Bin) phóng vượt lên phanh gấp làm đổ xe; N và Q (Q Bin) xuống xe chạy quay lại chỗ Duy ngã, Duy vùng dậy chạy quay ngược lại, cùng lúc này Dương Tiến Q vừa chạy đến nơi dùng chân đạp D ngã ra đường rồi dùng kiếm chém D. N chạy đến chỗ Dương Tiến Q giật lấy 1 thanh kiếm và cùng Q (Q Bin), Dương Tiến Q mỗi người cầm 01 thanh kiếm chém D, khi bị chém D kêu lên: “Chú ơi cứu cháu” thì Dương Tiến Q nói: “Này thì chú ơi cứu cháu này”, sau đó Dương Tiến Q và Q (Q Bin) đi ra vị trí xe đổ, còn N tiếp tục đánh Duy. Lúc này, N từ chỗ nấp chạy đến ôm N từ phía sau rồi giằng kiếm của N nhưng không được, Duy vùng dậy đấm vào vùng đầu, mặt của N thì N gọi: “Bọn mày đâu quay lại đây”. Nghe N gọi thì Q (Q Bin) và Dương Tiến Q chạy quay lại, Q (Q Bin) chạy đến đạp 01 phát làm D bị ngã và dùng kiếm chém D, còn Dương Tiến Q đạp N 01 phát làm N buông tay, khuỵu gối xuống không ôm N nữa. N quay người lại dùng kiếm chém 01 phát trúng vào vùng đỉnh đầu của N làm N bị 01 vết thương vùng đỉnh đầu dài khoảng 12cm, chảy nhiều máu. N nằm xuống đường, hai tay ôm đầu thì N tiếp tục dùng kiếm chém liên tiếp khoảng 05 đến 07 phát về phía người của N nhưng nhiều phát không trúng, có phát trúng vào tay N. Lúc này Q Bin cũng cầm kiếm chém 03 phát về phía người N, có phát trúng vào tay của N. Sau khi thấy N nằm im, bất động và có người dân hô hoán thì N, Dương Tiến Q và Q (Q Bin) lấy xe và bỏ đi. Khi N, Dương Tiến Q và Q (Q Bin) đi đến đoạn gần khu vực nghĩa trang liệt sĩ xã Đ thì gặp các xe khác trong nhóm của N, N bảo với cả nhóm: “Lúc tao chém bọn nó chúng mày ở đâu thế, tao chém nó cong cả kiếm”. Sau đó, cả nhóm N cùng đi về Trường THPT Đ đứng nói chuyện rồi giải tán đi về nhà. Lúc này Cao Quang Q cầm 03 thanh kiếm mà N, Dương Tiến Q và Q (Q Bin) vừa đánh chém Duy và N đem về nhà cất, còn Huy cầm thanh kiếm của Q (Q Bê) mang về nhà cất.

Hậu quả: Nguyễn Hữu N bị 01 vết thương vùng đỉnh đầu dài khoảng 12cm, bờ mép vết thương nham nhở, chảy nhiều máu, đau tức ngực, khó thở; khuỷu tay phải có vết thương dài khoảng 4cm, bàn tay trái có vết thương mặt gan đốt 1 ngón 3,4, đứt gân duỗi ngoài ngón 4,5 gãy đốt 1 ngón 4. N được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Q y 109 từ ngày 02/6/2022 đến ngày 10/6/2022 thì ra viện. Ngày 23/9/2022 do đau tức ngực, N đến Phòng khám đa khoa Nam Long (địa chỉ: Xã Đại Đồng, huyện Vĩnh Tường) khám chụp lại. Các ngày 06/7/2022 và 30/8/2022, N đến Phòng khám đa khoa Thiên Hồng (địa chỉ: Thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái N) để chụp X-quang, mổ rút đinh thương tích tại bàn tay trái. Còn Nguyễn Khánh D bị thương ở khuỷu tay phải, bàn chân phải có vết thương chảy máu, tại vùng bắp tay phải có vết thương rách da chảy máu dài khoảng 06-07cm, sau khi được băng bó vết thương tại Bệnh viện Q y 109 sau đó về nhà điều trị.

Nhận được tin báo Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, chỉ dẫn hiện trường, giám định các hung khí gây án và điều tra, xác minh, giải quyết theo quy định pháp luật.

Kết quả nhận dạng:

1/ Nhận dạng 04 thanh kiếm:

Ngày 08/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tổ chức cho Phạm Phi N, Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q (Q Bin) nhận dạng đối với 04 thanh kiếm đã thu giữ, kết quả: Phạm Phi N, Dương Tiến Q, Nguyễn Văn Q (Q Bin) đều nhận dạng được thanh kiếm mà các bị can đã sử dụng để chém Duy, N và thanh kiếm của Nguyễn Duy A (An Béo), khi đi đánh nhau thì Nguyễn Văn Q (Q Bê) cầm đi nhưng không chém ai.

2/ Nhận dạng qua video:

Ngày 09/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tổ chức cho các đối tượng trong nhóm của N nhận dạng người qua video ghi nhận hình ảnh giai đoạn các đối tượng điều kH xe máy đuổi đánh Duy, N (video được trích xuất từ camera vị trí cổng trụ sở UBND xã Đ và của gia đình anh Nguyễn Văn Cảnh, trú tại thôn H 2, xã Đ, đầu ngõ đi vào hiện trường chính), kết quả cụ thể:

Kết quả nhận dạng của Phạm Phi N:

- N nhận ra thanh niên mặc áo phông cộc tay màu đen chạy bộ tại thời điểm 20 giờ 36 phút 51 giây ngày 02/6/2022 theo thời gian H thị trên video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh nhìn giống N là người mà N đã dùng kiếm chém.

- N nhận ra người điều kH xe máy tại thời điểm 20 giờ 36 phút 58 giây ngày 02/6/2022 theo thời gian H thị trên video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh là N và người ngồi sau xe máy của N là Q (Q Bin) và thanh niên cởi trần chạy bộ sau xe máy, tay cầm kiếm là Dương Tiến Q. Lý do N nhận dạng được là thông qua hình dáng bên ngoài và vào tối ngày 02/6/2022 N đã trực tiếp cùng Q (Q Bin) và Dương Tiến Q tham gia dồn đuổi đánh nhau nên N nhận ra và khẳng định như trên.

Kết quả nhận dạng của Dương Tiến Q:

- Tại thời điểm 20 giờ 36 phút 57 giây ngày 02/6/2022 theo thời gian H thị trên video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh thì Dương Tiến Q nhận ra người nam giới cởi trần điều kH xe máy màu đen là N chở theo người ngồi sau là Q (Q Bin) và nam giới cởi trần chạy bộ phía sau xe máy, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm kiếm quấn áo chính là Dương Tiến Q. Lý do nhận được như vậy là thông qua đặc điểm hình dáng bên ngoài của ba người, thông qua đặc điểm xe máy và Dương Tiến Q trực tiếp tham gia dồn đuổi đánh nhau nên nhận ra và khẳng định như trên.

- Tại thời điểm 10 giờ 16 phút 51 giây ngày 02/6/2022 theo thời gian H thị trên video thu giữ Camera an ninh tại cổng trụ sở UBND xã Đ thì Dương Tiến Q nhận ra người nam giới cởi trần điều kH xe máy là N chở theo Q (Q Bin) và lý do nhận được như vậy là thông qua đặc điểm hình dáng bên ngoài của ba người đều cởi trần và vào tối ngày 02/6/2022 Dương Tiến Q trực tiếp ngồi trên xe máy do N điều kH cùng Q (Q Bin) nên nhận ra và khẳng định như trên.

Kết quả nhận dạng của Nguyễn Việt A:

- Tại thời điểm 20 giờ 36 phút 57 giây trong video thu giữ Camera an ninh cổng UBND xã Đ thì Việt A nhận ra nam thanh điều kH xe máy là N, loại xe wave màu đen mà Việt A cho N mượn; lý do Việt A nhận dạng được là do Việt A nhìn thấy dáng người, N chơi cùng Việt A nên nhận được như trên.

- Tại video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh thì Việt A nhận ra người nam giới cởi trần chạy bộ là Dương Tiến Q. Lý do Việt A nhận được như vậy là thông qua đặc điểm hình dáng bên ngoài và nhiều lần đi chơi với Dương Tiến Q nên Việt A nhận ra và khẳng định như trên.

Kết quả nhận dạng của Nguyễn Duy A:

- Tại video thu giữ Camera an ninh cổng trụ sở UBND xã Đ thì An khẳng định là hình ảnh ghi lại sự việc nhóm của An đến xã Đ để đánh nhau; An nhận ra 01 xe mô tô chở 03 nam thanh niên cởi trần là N, Q (Q Bin) và Dương Tiến Q do đặc điểm loại xe, thời điểm xảy ra và An là người đi cùng nên nhận được như trên.

- Tại video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh thì An nhận ra người nam giới cởi trần chạy bộ tay phải cầm vật giống kiếm là Dương Tiến Q. Lý do An nhận được như vậy là thông qua đặc điểm hình dáng bên ngoài và nhiều lần đi chơi với Dương Tiến Q nên An nhận ra và khẳng định như trên.

Kết quả nhận dạng của Bùi Quang T:

Tại video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh thì Thường nhận ra người nam giới cởi trần chạy bộ tay cầm kiếm là Dương Tiến Q. Lý do Thường nhận được như vậy là thông qua đặc điểm hình dáng bên ngoài và Thường nhiều lần đi chơi với Dương Tiến Q nên Thường nhận ra và khẳng định như trên.

Kết quả nhận dạng của Nguyễn Tiến Đ:

Tại video thu giữ Camera an ninh nhà anh Cảnh thì Đạt nhận ra người nam giới cởi trần chạy bộ tay cầm 01 vật giống kiếm là Dương Tiến Q. Lý do Đạt nhận được như vậy là thông qua đặc điểm hình dáng bên ngoài và nhiều lần Đạt đi chơi với Dương Tiến Q nên Đạt nhận ra và khẳng định như trên.

Nhận dạng người qua ảnh của Nguyễn Duy T:

- Toàn nhận dạng được Nguyễn Việt A và Bùi Quang T là 02 người đi cùng xe mô tô với Toàn vào tối ngày 02/6/2022 khi lên xã Đ để đánh nhau.

- Toàn nhận ra Q (Q Bin) và N là hai nam thanh niên trong số 03 người cởi trần đi một xe mô tô lên xã Đ để đánh nhau vào tối ngày 02/6/2022.

Kết quả giám định thương tích:

Đối với thương tích của Nguyễn Hữu N:

- Tại Bệnh án số 4759 ngày 02/6/2022 của Bệnh viện Q y 109 có mô tả thương tích của Nguyễn Hữu N như sau:

“Vết thương vùng đỉnh dài khoảng 12cm, bờ mép nham nhở, chảy nhiều máu. Đau tức ngực, khó thở, khuỷu tay phải có vết thương dài 4cm. Bàn tay trái có vết thương mặt gan đốt 1 ngón 3, 4. Đứt gân duỗi ngoài gãy đốt 1 ngón 4.

- CLVT sọ não ngày 02/06/2022: Hình ảnh vết vỡ xương đỉnh hai bên do vật sắc, chưa xuyên thủng bản xương sọ + Vết thương da đầu vùng đỉnh chẩm.

- Xquang ngực ngày 02/06/2022: Không phát hiện tổn thương.

- Xquang xương bàn ngón tay thẳng, nghiêng hoặc chếch ngày 02/06/2022: Gãy xương đốt 1 ngón 4 bàn tay trái.

Chẩn đoán: Chấn thương sọ não, chấn động não, chấn thương ngực kín, vết thương phần mềm.

Điều trị: Kháng sinh, cầm máu, giảm đau, giảm nề, sinh tố, an thần, cố định xương gãy.”

- Ngày 03/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 145/QĐ-TCGĐ, trưng cầu T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định thương tích của Nguyễn Hữu N. Ngày 09/6/2022, T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 194/TgT, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vỡ xương đỉnh hai bên mỗi bên xếp: 08%; 08%.

- Gãy đốt 1 ngón 4 bàn tay trái xếp: 02%.

- Vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm kích thước T bình xếp: 02%.

- Vết thương phần mềm 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Vết thương phần mềm ngón 2 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Vết thương phần mềm ngón 3 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Vết thương phần mềm ngón 4 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Vết thương phần mềm ngón 5 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Đứt gân duỗi ngoài 4, 5 bàn tay trái và các vết thương phần mềm đang trong quá trình điều trị khi nào điều trị ổn định giám định bổ sung.

- Chiều hướng vết thương đã mô tả trong phần thương tích.

- Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc gây nên.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổng thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 23% (Hai mươi ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.”

- Ngày 28/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 04/QĐ-CQĐT yêu cầu T tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định bổ sung thương tích của Nguyễn Hữu N. Ngày 01/7/2022, T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 235/TgT, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vỡ xương đỉnh hai bên mỗi bên xếp: 08%; 08%.

- Gãy đốt 1 ngón 4 bàn tay trái xếp: 02%.

- Sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm kích thước T bình xếp: 02%.

- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Sẹo vết thương phần mềm ngón 2 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Sẹo vết thương phần mềm ngón 3 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Sẹo vết thương phần mềm ngón 4 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Sẹo vết thương phần mềm ngón 5 bàn tay trái kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Khâu gân duỗi ngoài 4, 5 bàn tay trái xếp: 01%.

- Chiều hướng vết thương đã mô tả trong phần thương tích.

- Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc gây nên.

- Hình ảnh gãy cũ cung trước xương sườn số IX bên trái không phù hợp với hồ sơ ban đầu do Cơ quan CSĐT Công an huyện Y cung cấp.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 23% (Hai mươi ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.”

- Ngày 04/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã lập Biên bản làm việc với T tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị giải thích cụm từ “Vỡ xương đỉnh hai bên mỗi bên xếp: 08%” thể hiện tại Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 235/TgT ngày 01/7/2022. T tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản trao đổi, cung cấp: Theo cấu tạo giải phẫu của xương hộp sọ thì xương hộp sọ có hai xương đỉnh là xương đỉnh trái và xương đỉnh phải, khi có lực tác động bằng vật tày hay vật sắc lên vùng đỉnh đầu có thể gây tổn thương da đầu và các tổ chức bên trong hộp sọ.

- Ngày 03/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 430/VPCQCSĐT-Đ2 gửi T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị trả lời các nội dung sau:

“+ Các tổn thương cơ thể đã xác định tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 194/TgT ngày 09/6/2022 và Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 235/TgT ngày 01/7/2022 của T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đối với thương tích của Nguyễn Hữu N có phải là vùng trọng yếu trên cơ thể con người hay không?

+ Với các thương tích trên nếu Nguyễn Hữu N không được cấp cứu kịp thời có dẫn đến tử vong hay không?”

Ngày 06/3/2023 T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 13/PY-GĐTH trả lời Văn bản số 430/VPCQCSĐT-Đ2 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc như sau:

“- Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Pháp y Tâm thần không có quy định vùng trọng yếu nên chúng tôi không có căn cứ trả lời quý cơ quan.

- Với các thương tích như trong hồ sơ Cơ quan CSĐT cung cấp thì nếu không được cấp cứu kịp thời rất có thể diễn biến nặng và dẫn đến tử vong.”

Đối với thương tích của Nguyễn Khánh D:

Do thương tích nhẹ, nên Duy không đi điều trị ở cơ sở y tế nào. Tại Biên bản xem xét dấu vết thân thể hồi 08 giờ ngày 03/6/2022 tại Bệnh viện Q y 109, thể hiện trên thân thể Duy có các dấu vết như sau:

“- Tại vị trí khuỷu tay phải có 01 vết thương rách da chảy máu KT 2cm x 2cm bờ mép nham nhở, còn chảy máu.

- Tại vị trí bắp tay bên phải có 01 vết thương rách da chảy máu KT 8cm rộng 0,5cm bờ mép sắc gọn, vết thương còn rớm máu.

- Tại vị trí mu bàn chân bên phải có 01 vết thương rách da chảy máu KT dài 3,5cm rộng 0,5cm vết thương có bờ mép sắc gọn, hiện còn rớm máu.”

- Ngày 03/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 144/QĐ-TCGĐ, trưng cầu T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định thương tích của Nguyễn Khánh D. Ngày 22/6/2022, T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 209/TgT, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên ngoài cánh tay phải kích thước T bình xếp: 02%.

- Vết thương phần mềm (đang đóng vảy tiết còn rỉ dịch) khuỷu tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Vết thương phần mềm mặt ngoài mu bàn chân phải kích thước T bình xếp: 02%.

- Vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt ngoài sau cẳng chân phải kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Hiện tại: Nạn nhân đang điều trị vết thương, khi nào ổn định giám định bổ sung.

- Cơ chế hình thành vết thương: Các thương tích đã mô tả trên có thể là do vật sắc gây nên.

- Chiều hướng vết thương đã mô tả trong phần thương tích.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 06% (Sáu phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.”

- Ngày 21/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 06/QĐ-VPCQCSĐT-Đ2 yêu cầu T tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định bổ sung thương tích của Nguyễn Khánh D. Ngày 28/02/2023, T tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 51/TgT, kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên ngoài cánh tay phải kích thước T bình xếp: 02%.

- Sẹo vết thương phần mềm khuỷu tay phải kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài mu bàn chân phải kích thước T bình xếp: 02%.

- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt ngoài sau cẳng chân phải kích thước nhỏ xếp: 01%.

- Các thương tích đã mô tả trên không có trong danh mục đánh giá ảnh hưởng chức năng hoạt động của cơ thể và ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 06% (Sáu phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.”

Kết quả giám định ADN:

- Ngày 07/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 191/QĐ-TCGĐ trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với thanh kiếm tự chế được làm bằng kim loại, chiều dài 52,5cm, thân kiếm dài 38,5cm, chuôi kiếm hình tròn dài 14cm hình vòng cong bám vào chuôi kiếm, kích thước bản rộng nhất của thanh kiếm 3,5cm, mũi kiếm vát nhọn (Ký hiệu M1). Ngày 29/7/2022, Viện khoa học hình sự Bộ Công an có Kết luận giám định số 4392/KL-KTHS, kết luận:

“1. Trên thanh kiếm (ký hiệu M1) gửi giám định có bám dính máu của Nguyễn Hữu N.

2. Không phát hiện thấy tế bào người trên thanh kiếm (ký hiệu M1) gửi giám định.

3. Lưu các kiểu gen (theo hệ GlobalFiler) của Phạm Phi N, Dương Tiến Q, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N tại Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an.”

- Ngày 07/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 192/QĐ-TCGĐ trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với thanh kiếm được làm bằng kim loại, chiều dài 83cm, thân kiếm dài 61,5cm, chuôi kiếm hình tròn dài 22cm, kích thước bản rộng nhất của thanh kiếm 04cm, mũi kiếm vát nhọn (ký hiệu M2). Ngày 05/8/2022, Viện khoa học hình sự Bộ Công an có Kết luận giám định số 4391/KL-KTHS, kết luận:

“1. Trên thanh kiếm (ký hiệu M2) gửi giám định có bám dính máu của Nguyễn Hữu N

2. Trên thanh kiếm (ký hiệu M2) gửi giám định có bám dính tế bào người Không phân tích được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém”.

- Ngày 07/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 193/QĐ-TCGĐ trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với thanh kiếm bằng kim loại sáng màu, tổng chiều dài khoảng 97cm, phần thân kiếm dài khoảng 66cm, mũi kiếm vát nhọn, kích thước bản rộng nhất khoảng 04cm, chuôi kiếm bằng kim loại dạng bẹt dài khoảng 31cm, bên ngoài cuốn băng dính màu đen (ký hiệu M3). Ngày 05/8/2022, Viện khoa học hình sự Bộ Công an có Kết luận giám định số 4390/KL-KTHS, kết luận:

“1. Không phát hiện thấy máu người trên thanh kiếm (ký hiệu M3) gửi giám định.

2. Trên thanh kiếm (ký hiệu M3) gửi giám định có bám dính tế bào người. Không phân tích được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém”.

- Ngày 13/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 259/QĐ-TCGĐ trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định ADN đối với thanh kiếm tự chế được làm bằng kim loại bọc bên ngoài bằng nhựa màu xanh ở giữa tay cầm và lưỡi kiếm có gắn thanh kim loại ngăn cách (ký hiệu M4). Ngày 21/10/2022, Viện khoa học hình sự Bộ Công an có Kết luận giám định số 6201/KL-KTHS, kết luận:

“1. Trên thanh kiếm (ký hiệu M4) gửi giám định có bám dính tế bào người. Không phân tích được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém

2. Không phát hiện thấy máu người trên thanh kiếm (ký hiệu M4) gửi giám định.

3. Lưu kiểu gen (theo hệ GlobalFiler) của Nguyễn Văn Q tại Viện khoa học hình sự, Bộ Công an”.

Kết quả giám định kỹ thuật số điện tử:

- Ngày 15/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 158/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc USB nhãn hiệu TOSHIBA, màu bạc, dung lượng 04GB, bên trong chứa 01 tệp tin video, được niêm phong theo quy định, ký hiệu A1 do anh Nguyễn Văn Cảnh- SN 1984 trú tại thôn H 2, xã Đ, huyện Y giao nộp. Ngày 29/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 1896/KLGĐ, kết luận:

“ Chụp được 11 ảnh mô tả đặc điểm, diễn biến hành động của những người xuất hiện trên tệp tin video gửi giám định. Toàn bộ ảnh chụp được in và thuyết minh trong Bản ảnh giám định gửi kèo theo Kết luận giám định.

Sao lưu được 01 tệp tin video gửi giám định vào 01 đĩa DVD.”

- Ngày 15/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 159/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc USB nhãn hiệu KINGSTON, màu đỏ, dung lượng 08GB, bên trong chứa 01 tệp tin video, được niêm phong theo quy định, ký hiệu A2 do anh Nguyễn Văn Chính- Cán bộ Công chức văn phòng UBND xã Đ giao nộp. Ngày 29/6/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 1897/KLGĐ, kết luận:

“Chụp được 17 ảnh mô tả đặc điểm, diễn biến hành động của những người xuất hiện trên tệp tin video gửi giám định. Toàn bộ ảnh chụp được in và thuyết minh trong Bản ảnh giám định gửi kèo theo Kết luận giám định.

Sao lưu được 01 tệp tin video gửi giám định vào 01 đĩa DVD.”

- Ngày 26/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 217/QĐ-ĐTHS trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s, màu đen, số Imei: 353342075464098, màn hình điện thoại bị vỡ, mật khẩu mở khóa màn hình là 211227, đã qua sử dụng do Nguyễn Hữu N giao nộp. Ngày 06/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2400/KL-KTHS, kết luận:

“Trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định theo yêu cầu giám định, thu giữ được 12 (mười hai) ảnh chụp trực tiếp màn hình điện thoại thể hiện nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook có tên “N Nguyễn” với tài khoản Facebook có tên “Phạm Phi N”.

Toàn bộ ảnh chụp nêu trên được thể hiện trong bản ảnh giám định”

- Ngày 26/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 218/QĐ-ĐTHS trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, số Imei1: 354813604469138/01; Imei2: 356766634469130/01, không có mật khẩu màn hình, do chị Nguyễn Thị Tâm- SN 1987, trú tại thôn thôn Cổ Tích, xã Đồng Cương, huyện Y là mẹ của Phạm Phi N giao nộp. Ngày 07/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2406/KL-KTHS, kết luận:

“Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích dữ liệu theo yêu cầu giám định không tìm thấy tin nhắn giữa tài khoản Facebook có tên “Phạm Phi N” với tài khoản Facebook có tên “N Nguyễn” trên phần mềm ứng dụng Facebook Messenger”.

- Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 263 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng, đã qua sử dụng, màn hình có vết vỡ nứt, số Imei: 359150073124471 do bà Dương Thị Lý là mẹ của Nguyễn Việt A giao nộp. Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2992/KL-KTHS, kết luận:

“Trích xuất được dữ liệu trên điện thoại và thẻ sim gửi giám định:

- Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022: Không có dữ liệu tin nhắn Messenger cuộc trò chuyện giữa tài khoản đang đăng nhập trên điện thoại với các tài khoản tên: Phạm Phi N, Bùi Quang T, Tô H, Nguyễn Tiến D, Cao Quang Q, Trần Huy, Q Binn, Dương Quốc Q, Sài Tiến Q, Dương M, Nguyễn Tiến Đ.

- Không tìm thấy dữ liệu vị trí của mẫu vật trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 02/6/2022”.

- Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 264 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, màn hình bị vỡ, số Imei: 356959066336188 do Dương Tiến Q giao nộp. Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2993/KL-KTHS, kết luận:

“- Không trích xuất được dữ liệu tin nhắn Messenger trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022 và dữ liệu vị trí từ 20 giờ 30 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 02/6/2022 trên mẫu vật gửi giám định (do các thiết bị, phần mềm hiện có của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc không hỗ trợ trích xuất dữ liệu đối với điện thoại sạc không vào điện, không khởi động được máy).

- Trên thẻ sim in hàng số 8984048000045399114 không có dữ liệu tin nhắn trên Facebook Messenger và dữ liệu vị trí”.

- Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 265 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số seri: DX3GVFHVN735, mật khẩu: 110505 do Cao Quang Q giao nộp. Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2994/KL-KTHS, kết luận:

“- Chụp được 01 ảnh màn hình tin nhắn Messenger cuộc trò chuyện giữa tài khoản đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản Messenger tên “Nguyễn Tiến D”, trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022. Toàn bộ ảnh chụp được in và thuyết minh vào Bản ảnh giám định .

- Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn cuộc trò chuyện với các tài khoản Facebook Messenger Bùi Quang T, Tô H, Cao Quang Q, Phạm Phi N, Nguyễn Việt A, Trần Huy, Dương Quốc Q, Q Bin, Sài Tiến Q, Dương M, Nguyễn Tiến Đ trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022.

- Không tìm thấy dữ liệu vị trí của mẫu vật trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 02/6/2022”.

- Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 266 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, màu vàng, đã qua sử dụng, số seri: FFYXT1TTKPHF, mật khẩu điện thoại: 369963 do Nguyễn Văn Q (Q Bin) giao nộp. Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2997/KL-KTHS, kết luận:

“Trích xuất được dữ liệu trên điện thoại và thẻ sim gửi giám định, qua phân tích dữ liệu thấy:

- Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022: Không có dữ liệu tin nhắn Messenger cuộc trò chuyện giữa tài khoản đang đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với các tài khoản Facebook Messenger tên: Bùi Quang T, Tô H, Nguyễn Tiến D, Cao Quang Q, Phạm Phi N, Nguyễn Việt A, Trần Huy, Dương Quốc Q, Sài Tiến Q, Dương M, Nguyễn Duy T, Nguyễn Tiến Đ.

- Không tìm thấy dữ liệu vị trí của mẫu vật trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 02/6/2022”.

- Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 267 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAx, màu vàng, đã qua sử dụng, số seri: FFYXT1TTKPHF, mật khẩu điện thoại: 369963 do Trần Quang H giao nộp. Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2995/KL-KTHS, kết luận:

“- Chụp được 26 (Hai mươi sáu) ảnh màn hình tin nhắn Messenger cuộc trò chuyện giữa tài khoản đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản Messenger tên “Bùi Quang T”, “Tô H”, “Nguyễn Tiến D”, “Cao Quang Q” trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022.

- Không tìm thấy tin nhắn Messenger cuộc trò chuyện giữa tài khoản đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với các tài khoản Facebook Messenger tên:, Phạm Phi N, Nguyễn Việt A, Dương Quốc Q, Q Bin, Sài Tiến Q, Dương M, Nguyễn Duy T, Nguyễn Tiến Đ trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2022 đến ngày 15/6/2022.

- Không tìm thấy dữ liệu vị trí của mẫu vật trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 02/6/2022”.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng:

Ngày 03/6/2022, anh Nguyễn Văn Cảnh- SN 1984 trú tại thôn H 2, xã Đ, huyện Y giao nộp 01 (một) chiếc USB nhãn hiệu TOSHIBA, màu bạc, dung lượng 04GB, bên trong chứa 01 tệp tin video.

Ngày 03/6/2022, chị Nguyễn Thị Tâm là mẹ đẻ của Phạm Phi N giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, đã cũ.

Ngày 04/6/2022, Cao Quang Q giao nộp 02 thanh kiếm, gồm: 01 thanh kiếm dài 52cm, bằng kim loại, thân kiếm dài 40cm, chuôi kiếm dài 12cm hình vòng cung bám vào chuôi kiếm, chỗ rộng nhất của thân kiếm là 3,5cm; 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại, chiều dài 82cm, thân kiếm dài 61 cm, chuôi kiếm hình tròn dài 21cm, chỗ rộng nhất của thân là 04cm, mũi kiếm vát nhọn, kiếm màu xám trắng.

Ngày 07/6/2022, anh Nguyễn Văn Chính- Cán bộ Công chức văn phòng UBND xã Đ giao nộp 01 chiếc USB nhãn hiệu KINGSTON, màu đỏ, dung lượng 08GB, bên trong chứa 01 tệp tin video.

Ngày 07/6/2022, Phạm Phi N giao nộp 12 tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook “Phạm Phi N” và tài khoản Facebook “N Nguyễn”, có chữ ký xác nhận của Phạm Phi N.

Ngày 14/6/2022, Nguyễn Hữu N giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6s, màu đen, màn hình điện thoại đã bị vỡ, mật khẩu mở khóa màn hình là 211227, đã cũ và 12 trang giấy khổ A4 in từ màn hình điện thoại của N là hình ảnh tài khoản Facebook “N Nguyễn” nhắn tin với tài khoản Facebook “Phạm Phi N”, có chữ ký xác nhận của N.

Ngày 16/6/2022, Trần Quang H giao nộp 01 thanh kiếm bằng kim loại sáng màu, tổng chiều dài 96cm, phần thân kiếm dài 66cm, có 01 lưỡi sắc, mũi kiếm vát nhọn, bản kiếm chỗ rộng nhất là 05cm, chuôi kiếm bằng kim loại dạng bẹt, dài 30cm, bên ngoài cuốn băng dính màu đen.

Ngày 16/6/2022, Nguyễn Văn G giao nộp 01 côn nhị khúc bằng kim loại, dài 72cm, gồm 02 đoạn kim loại, mỗi đoạn dài 27cm được nối với nhau bởi một đoạn xích bằng kim loại dài 18cm.

Ngày 16/6/2022, Nguyễn Hữu N giao nộp các sợi tóc thu trực tiếp trên đầu của N.

Ngày 16/6/2022, Nguyễn Khánh D giao nộp các sợi tóc thu trực tiếp trên đầu của Duy.

Ngày 17/6/2022, Dương Tiến Q giao nộp các sợi tóc thu trực tiếp trên đầu của Q.

Ngày 17/6/2022, Phạm Phi N giao nộp các sợi tóc thu trực tiếp trên đầu của N.

Ngày 17/6/2022, ông Nguyễn Văn Q, trú tại Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y (bố đẻ của Nguyễn Việt A) giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, BKS: 88F1 - 589.78, màu sơn: đen - bạc, số máy: JA39E2493180, số khung: RLHJA3922MY468259, đã cũ; 01 tờ giấy A4 bản phô tô, một mặt là Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 88007223, tên chủ xe: Dương Thị Lý ở khu 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 03/7/2022, anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979, trú tại Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y (bố đẻ của Nguyễn Việt A) giao nộp 01 Giấy khai sinh bản sao của Nguyễn Việt A.

Ngày 12/8/2022, Dương Tiến Q giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, màn hình bị vỡ (đã cũ).

Ngày 29/8/2022, Nguyễn Văn Q (Q Bin) giao nộp: 01 chiếc quần vải thô, màu trắng, loại quần ngố, đã cũ, đã qua sử dụng; 01 đôi dép lê, màu xanh, đã cũ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đã cũ.

Ngày 31/8/2022, Cao Quang Q và anh Cao Quang Tuyến, sinh năm 1979 (là bố đẻ của Q) trú tại thôn Tam Kỳ 2, xã Đại Tự, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giao nộp 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 55cm, có một lưỡi kiếm sắc nhọn, màu trắng, có ký hiệu chữ và số “USA M9”, chiều dài thân lưỡi kiếm là 42cm và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, mật khẩu màn hình: 110505, đã cũ.

Ngày 09/9/2022, Trần Quang Ánh, sinh năm 2005, trú tại thôn Đ 3, xã Đ, huyện Y giao nộp 01 lưỡi dao bầu bằng kim loại tối màu, kích thước dài 24cm, phần rộng nhất là 06cm, dao có một lưỡi sắc, đầu dao sắc nhọn, phần lưỡi sắc bị mất một phần kích thước (02 x 0,5)cm, phần chuôi dao bị gãy rời (không có chuôi dao). Ngày 11/9/2022, Trần Quang Ánh giao nộp 01 con dao quắm, có chuôi dài 20cm, phần lưỡi dao sắc bằng kim loại dài 30cm.

Ngày 10/9/2022, Tô Văn H giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu sơn nâu đã cũ và 01 bản phô tô Đăng ký xe mô tô, BKS: 88H3-0789.

Ngày 10/9/2022, Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1968, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y là bố đẻ của Nguyễn Tiến D giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88F1-562.73, màu sơn xanh - đen - bạc, đã cũ.

Ngày 10/9/2022, Hà Thị Kiều Trang, sinh năm 2001, trú tại thôn T 2, xã L, huyện Y là chị gái ruột của Hà Đình Q giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88F1 - 125.64, màu sơn nâu, đã cũ.

Ngày 11/9/2022, Nguyễn Duy T và ông Nguyễn Văn Thư, sinh năm 1962, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y là bố đẻ của Nguyễn Duy T giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1-568.79, màu sơn trắng, đã cũ.

Ngày 11/9/2022, Nguyễn Duy A giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1 - 583.11, màu sơn đen, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88F1 - 583.11.

Ngày 11/9/2022, Nguyễn Văn A giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88F1 - 586.62, màu sơn: đen - bạc, đã cũ và 01 bản phô tô Chứng nhận đăng ký xe BKS: 88F1-586.62.

Ngày 12/9/2022, Nguyễn Văn Q (Q Bin) và bố đẻ là ông Nguyễn Văn Giang, sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giao nộp các sợi tóc thu trực tiếp trên đầu của Q (Q Bin) và 01 tờ giấy A4, ghi nội dung: Sổ phụ chi tiết kiệm báo nợ/báo có, tên khách hàng: “TRAN THI PHUONG”, ghi ngày 12/9/2022, đóng dấu tròn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đội, Chi nhánh Vĩnh Phúc, Phòng Giao dịch Y.

Ngày 12/9/2022, chị Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1981, trú tại thôn T 4, xã L, huyện Y là mẹ đẻ của Nguyễn Vũ D giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, BKS: 88F1 - 4871, màu sơn nâu, đã cũ.

Ngày 12/9/2022, Nguyễn Thị H, sinh năm 2006, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện Y giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng đã cũ.

Ngày 15/9/2022, chị Dương Thị Lý, sinh năm 1983, trú tại Tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu hồng, màn hình có vết vỡ nứt đã cũ, bên trong có lắp sim điện thoại có dãy số 8984048841000919559.

Ngày 15/9/2022, Trần Quang H giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, mật khẩu điện thoại: 369963, đã cũ.

Ngày 08/3/2023 và ngày 03/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra các Quyết định xử lý vật chứng số 04, 05, 06 trả lại các tài sản cho các chủ sở hữu gồm:

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, BKS: 88F1 - 589.78, màu sơn: đen - bạc, cho bà Dương Thị Lý- SN 1983, trú tại Khu 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y (mẹ đẻ của Nguyễn Việt A).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88F1 - 125.64, màu sơn nâu cho ông Hà Đình Khắc, trú tại thôn T, xã L, huyện Y (bố đẻ của Hà Đình Q)

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88F1 - 4871, màu sơn nâu cho ông Nguyễn Minh Tuân, trú tại thôn T 4, xã L, huyện Y (bố đẻ của Nguyễn Vũ D).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1-568.79, màu sơn trắng, cho ông Nguyễn Văn Thư, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y (bố đẻ của Nguyễn Duy T).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88H3-0789, màu sơn nâu, cho ông Tô Văn Hiền, ở Đ, Y (bố đẻ của Tô Văn H).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88F1-562.73, màu sơn xanh - đen

- bạc, cho ông Nguyễn Văn Bình, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y (bố đẻ của Nguyễn Tiến D).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1 - 586.62, màu đen - bạc, cho bà Kim Thị Hạnhở thôn Y 2, xã Đ, huyện Y (mẹ đẻ của Nguyễn Văn A).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1 - 583.11, màu sơn đen cho Nguyễn Duy A.

Về bồi thường dân sự:

Ngày 18/8/2022, chị Nguyễn Thị Tâm là mẹ đẻ của Phạm Phi N, chị Dương Thị Lý là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A và chị Đào Thị Minh là mẹ đẻ của Dương Tiến Q đã tự nguyện cùng nhau bồi thường cho Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N tổng số tiền là 60.000.000đ, trong đó chị Tâm bồi thường số tiền: 30.000.000đ, chị Lý bồi thường số tiền 15.000.000đ, chị Minh bồi thường số tiền: 15.000.000đ.

Ngày 30/01/2023, Nguyễn Hữu N và Nguyễn Khánh D có đơn yêu cầu bồi thường thêm thiệt hại về sức khỏe và tinh thần. Cơ quan điều tra đã làm việc với chị Trần Thị N- SN 1986 trú tại xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Thái N là mẹ đẻ của Duy và N, chị N đề nghị gia đình các đối tượng đã gây thương tích cho Duy, N phải bồi thường thêm tổng số tiền là 82.513.274đ, không bao gồm số tiền 60.000.000đ đã được gia đình của các đối tượng đã bồi thường cho Duy và N trước đó.

Ngày 11/12/2023, chị Đỗ Thị Hương là mẹ đẻ của Nguyễn Văn Q tự nguyện bồi thường cho bị hại N 15.000.000đ (ông Nguyễn Văn Nhanh đại diện bị hại nhận đủ tiền, viết biên nhận và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn Q).

Như vậy, trước khi xét xử sơ thẩm chị Nguyễn Thị Tâm là mẹ đẻ của Phạm Phi N, chị Dương Thị Lý là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A, chị Đào Thị Minh là mẹ đẻ của Dương Tiến Q và chị Đỗ Thị Hương là mẹ đẻ của Nguyễn Văn Q đã tự nguyện cùng nhau bồi thường cho Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N tổng số tiền là 75.000.000đ, cần xác nhận sự tự nguyện này của gia đình Nguyễn Việt A và các bị cáo.

Tại phiên tòa ba bị cáo và đại diện hợp pháp thỏa thuận bồi thường thêm cho N 30.000.000đ, nên cần buộc bị cáo Phạm Phi N và chị Nguyễn Thị Tâm bồi thường thêm cho N 10.000.000đ, buộc bị cáo Nguyễn Văn Q và chị Đỗ Thị Hương phải bồi thường thêm cho N 10.000.000đ và bị cáo Dương Tiến Q phải bồi thường thêm cho N 10.000.000đ theo thỏa thuận.

Tại Cơ quan điều tra Phạm Phi N, Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu ở trên.

Đối với Trần Văn D, Lê Kim N, Nguyễn Duy C đều của nhóm ở xã Đ, huyện Y mang theo trong người công cụ, phương tiện có khả năng gây sát thương như dao quắm, dao phóng lợn, côn nhị khúc nhằm mục đích đánh nhau vào các ngày 31/5/2022 và ngày 01/6/2022 là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan, đề nghị Công an huyện Y xem xét xử phạt hành chính đối với Trần Văn D, Lê Kim N, Nguyễn Duy C.

Tại Cáo trạng số 60/CT- VKS-2 ngày 05 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố:

- Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) về tội “Giết người”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Dương Tiến Q về các tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung thì Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can đối với Dương Tiến Q về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình.

Tại Cáo trạng số 118/CT- VKS-2 ngày 05 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố: Phạm Phi N, Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q về tội “Giết người” theo điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội: Giữ N quan điểm như đã truy tố đối với Phạm Phi N, Dương Tiến Q. Sau khi xem xét tính chất, mức độ tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi N, Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q phạm tội “Giết người”.

- Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 58, 91, 101, 102 Bộ luật hình sự xử phạt:

+ Bị cáo Phạm Phi N từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.

+ Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.

- Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, 91,101,102, 104 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Dương Tiến Q từ 4 năm 6 tháng đến 5 năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 67/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo Dương Tiến Q phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 6 năm 6 tháng đến 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý về tài sản, vật chứng bị thu giữ, bồi thường về dân sự trong vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Phi N phát biểu quan điểm: Bị cáo chưa thành niên, hoàn cảnh gia đình bố mẹ ly hôn, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo N mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q phát biểu quan điểm: Bị cáo chưa thành niên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và tại phiên tòa được bị hại xin giảm nhẹ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Tiến Q phát biểu quan điểm: Bị cáo chưa thành niên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xử căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, 91,101,102 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Dương Tiến Q mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố về cơ bản đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng.

[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người tham gia tố tụng nhưng tại phiên tòa vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người này.

Lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra, phù hợp với các kết luận giám định, vật chứng, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Do có mâu thuẫn và nhiều lần đánh nhau với nhóm thanh niên của xã Đ, nên khoảng từ 18 giờ ngày 02/6/2022 Phạm Phi N đã khởi xướng, rủ rê các đối tượng chuẩn bị dao, kiếm và các hung khí khác để đi đánh nhau với nhóm của xã Đ. Vào lúc 20 giờ cùng ngày, tại vòng xuyến Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Phi N cùng với Dương Tiến Q, Nguyễn Văn Q (Q Bin) mỗi người cầm 01 cái kiếm cùng các đối tượng khác hô hào, kích động cả nhóm là: “Hôm nay tao bắt được thằng Phùng Minh T thì tao chém chết nó”; “Chúng nó mà chạy vào trường thì tất cả bật tường vào chém bằng được, đừng có ai chạy, nếu ai không đi thì về kẻo chật xe”. Sau đó, Phạm Phi N điều kH xe mô tô chở Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q (Q Bin) dẫn đầu cùng khoảng 20 đối tượng khác đi tìm, đánh nhóm đối tượng ở xã Đ. Cả nhóm khi đi đến đoạn đường gần cổng trụ sở UBND xã Đ, do sợ có Công an đứng ở đó nên đã tách ra thành 02 nhóm đi 02 hướng khác nhau. Chỉ còn lại nhóm do Phạm Phi N điều kH xe mô tô chở Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q (Q Bin) đuổi, đánh nhóm thanh niên xã Đ. Khi đuổi đến khu vực gần ngã tư thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhóm N nhìn thấy Nguyễn Khánh D, Nguyễn Hữu N và các thanh niên khác của xã Đ. Nhóm của Duy, N chạy vào đường ngõ gần đó. Lúc này, Dương Tiến Q xuống xe 02 tay cầm theo 02 thanh kiếm tự chế chạy bộ, còn N tiếp tục điều kH xe chở Q (Q Bin) đuổi theo Duy, N thì N chạy nấp vào ngõ gần đó. Duy chạy thẳng va vào cổng của một nhà dân nên bị ngã. N điều kH xe chở Q (Q Bin) phóng vượt lên phanh gấp làm đổ xe. N và Q (Q Bin) xuống xe chạy quay lại chỗ Duy ngã, Duy vùng dậy chạy quay ngược lại, cùng lúc này Dương Tiến Q vừa chạy đến nơi dùng chân đạp Duy ngã ra đường rồi dùng kiếm chém Duy. N chạy đến chỗ Dương Tiến Q giật lấy 1 thanh kiếm và cùng Q Bin, Dương Tiến Q mỗi người cầm 01 thanh kiếm chém Duy, sau đó Dương Tiến Q và Q Bin đi ra vị trí xe đổ, còn N tiếp tục đánh Duy. Lúc này, N từ chỗ nấp chạy đến ôm N từ phía sau rồi giằng kiếm của N nhưng không được, Duy vùng dậy đấm vào vùng đầu, mặt của N thì N gọi Q Bin và Dương Tiến Q chạy quay lại để đánh Duy, N. Q Bin chạy đến đạp 01 phát làm Duy bị ngã và dùng kiếm chém Duy, còn Dương Tiến Q đạp N 01 phát làm N buông tay, khuỵu gối xuống không ôm N nữa. N quay người lại dùng kiếm chém 01 nhát trúng vào vùng đỉnh đầu của N làm N bị vỡ xương đỉnh đầu 02 bên, chảy nhiều máu. N nằm xuống đường, hai tay ôm đầu thì N tiếp tục dùng kiếm chém liên tiếp khoảng 05 đến 07 nhát về phía người của N nhưng có phát không trúng, có nhát trúng vào tay N. Q Bin cũng cầm kiếm chém 03 nhát về phía người N, có nhát trúng vào tay của N. Sau khi thấy N nằm im, bất động và có người dân hô hoán thì N, Dương Tiến Q và Q Bin mới lấy xe bỏ đi.

Hậu quả: Nguyễn Hữu N bị 01 vết thương vùng đỉnh đầu dài khoảng 12cm, vỡ xương đỉnh đầu 02 bên, chảy nhiều máu, đau tức ngực, khó thở; vết thương khuỷu tay phải, bàn tay trái, tổn hại 23% sức khỏe. Nguyễn Khánh D bị thương ở khuỷu tay phải, bàn chân phải, bắp tay phải, tổn hại 06% sức khỏe.

Phạm Phi N cầm kiếm là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu của Nguyễn Hữu N là vùng trọng yếu trên cơ thể làm N bị vỡ sọ, chảy nhiều máu nhưng N và Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) vẫn lao vào dùng kiếm chém nhiều nhát vào người N. Chỉ khi có người hô hoán và N nằm gục xuống thì nhóm N mới dừng lại, bỏ đi. N không bị tử vong là do may mắn, được cấp cứu kịp thời. Do đó, mặc dù N không chết mà chỉ bị tổn hại 23% sức khỏe nhưng hành vi của Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q đã phạm vào tội Giết người, trong đó N phạm tội với vai trò là người chủ mưu, thực hành; Q Bin và Dương Tiến Q phạm tội với vai trò là đồng phạm giúp sức. N, Q Bin, Dương Tiến Q còn phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Giết người dưới 16 tuổi” và “có tính chất côn đồ” theo điểm b, n khoản 1 Điều 123 bộ luật hình sự với hành vi phạm tội của mình.

Tội phạm và hình phạt được qui định cụ thể như sau:

“Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)…

b. Giết người dưới 16 tuổi.

n) Có tính chất côn đồ;”

Nguyễn Khánh D bị Phạm Phi N, Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) đạp, chém kiếm vào tay, chân, tổn hại 6% sức khỏe. Do đó, hành vi của N, Q Bin, Dương Tiến Q có dấu hiệu phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy vậy, đến ngày 02/6/2022 thì N và Q Bin đều chưa đến 16 tuổi, chỉ có Dương Tiến Q trên 16 tuổi nên chỉ có hành vi của Dương Tiến Q đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã khởi tố, truy tố Dương Tiến Q về “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra thì ngày 18/8/2022 bị hại Duy và người đại diện của bị hại đã có đơn xin rút đơn khởi tố vụ án hình sự miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra không đình chỉ bị can đối với Dương Tiến Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Cáo trạng số 60/VKS-2 ngày 05 tháng 05 năm 2023 truy tố Dương Tiến Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là chưa đúng qui định tại khoản 2 Điều 155 và điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, sau khi hồ sơ đã chuyển sang Tòa án thì ngày 09/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có công văn số 1260/VKS-P2 (về việc rút hồ sơ) xác định việc điều tra, truy tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” chưa đảm bảo theo qui định của pháp luật nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc chuyển lại hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc để giải quyết đảm bảo, chính xác theo qui định của pháp luật.

Ngày 21/8/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã có “Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung” số 04/2023/HSST-QĐ và trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung với hai nội dung:

- Những vấn đề được đề nghị trong Công văn rút hồ sơ vụ án số1260/VKS-P2 ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;

- Làm rõ các đối tượng đã có hành vi khai báo gian dối để khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi khai báo gian dối theo qui định của pháp luật.

Quá trình điều tra bổ sung, ngày 02/10/2023 Cơ quan điều tra đã đình chỉ điều tra vụ án hình sự số 05/QĐ-VPCQCSĐT và quyết định đình chỉ bị can số 03/QĐ-VPCQCSĐT đối với Dương Tiến Q về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng qui định của pháp luật.

Còn đối với nội dung yêu cầu làm rõ, xem xét về việc có một số đối tượng trong vụ án có dấu hiệu phạm tội khai báo gian dối: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã phối hợp cùng nghiên cứu, đánh giá lại toàn bộ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, thấy rằng: Trong vụ án này có 12 đối tượng có hành vi khai báo gian dối, đó là Phạm Phi N- sinh ngày 21/4/2007 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 01 tháng 12 ngày), Dương Tiến Q-sinh ngày 13/02/2005 (tính đến ngày 02/6/2022 là 17 tuổi 03 tháng 20 ngày), Nguyễn Văn Q (Q Bin)- sinh ngày 03/8/2006 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 09 tháng 30 ngày), Nguyễn Việt A- sinh ngày 24/01/2007 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 04 tháng 09 ngày), Dương Đức M- sinh ngày 16/12/2006 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 05 tháng 17 ngày), Cao Quang Q- sinh ngày 11/5/2005 (tính đến ngày 02/6/2022 là 17 tuổi 0 tháng 22 ngày), Nguyễn Tiến D-sinh ngày 29/9/2006 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 08 tháng 04 ngày), Trần Quang H- sinh ngày 05/9/2006 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 08 tháng 28 ngày), Tô Văn H- sinh ngày 21/02/2006 (tính đến ngày 02/6/2022 là 16 tuổi 03 tháng 12 ngày), Đỗ Tiến Đ- sinh ngày: 18/11/2006 (tính đến ngày 02/6/2022 là 15 tuổi 06 tháng 15 ngày), Nguyễn Duy A- sinh ngày 18/3/2004 (tính đến ngày 02/6/2022 là 18 tuổi 02 tháng 15 ngày), Nguyễn Văn Q (Q Bê)- sinh ngày 13/5/2005 (tính đến ngày 02/6/2022 là 17 tuổi 0 tháng 20 ngày), trong đó có 04 đối tượng đã là bị can trong vụ án là Phạm Phi N, Dương Tiến Q, Nguyễn Văn Q (Q Bin) và Nguyễn Việt A; có 04 đối tượng dưới 16 tuổi (gồm Dương Đức M, Nguyễn Tiến D, Trần Quang H và Đỗ Tiến Đ) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội khai báo gian dối. Còn lại 04 đối tượng là Cao Quang Q, Tô Văn H, Nguyễn Duy A và Nguyễn Văn Q (Q Bê), xét thấy 04 đối tượng này đều cùng một nhóm với Phạm Phi N rủ nhau cùng đi đánh nhau, đều là đối tượng cần phải xem xét, xử lý trong quá trình giải quyết vụ án; trong quá trình xác minh giải quyết tin báo, 04 đối tượng này đều khai là không trực tiếp nhìn thấy việc anh Duy, anh N bị đánh như thế nào nhưng có khai báo gian dối là Nguyễn Việt A ngồi cùng xe mô tô với Phạm Phi N, Dương Tiến Q trong quá trình đuổi đánh nhóm ở Đ (thực tế là Nguyễn Văn Q – tức Q Bin mới là người ngồi cùng xe mô tô với Phạm Phi N, Dương Tiến Q trong quá trình đuổi đánh nhóm ở Đ). Tuy vậy, lời khai nhận tội thay của Nguyễn Việt A mới mang tính quyết định để xác định là Nguyễn Việt A đã cùng N, Dương Tiến Q đuổi đánh nhóm ở Đ sau đó gây thương tích cho các anh Duy, N, lời khai gian dối của Cao Quang Q, H, An và Q Bê không mang tính quyết định, không ảnh hưởng đến việc kết tội các bị cáo trong vụ án này. Do đó, việc Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Cao Quang Q, Tô Văn H, Nguyễn Duy A và Nguyễn Văn Q – tức Q Bê về hành vi khai báo gian dối là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Việt A: Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Việt A về tội “Giết người”, theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật bởi trong quá trình điều tra Nguyễn Việt A tự khai nhận cùng N, Tiến Q chém N. Nhưng sau đó Cơ quan điều tra đã xác định Việt A không có hành vi chém N và Duy mà Q Bin mới là đồng phạm. Do đó, ngày 16/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y áp dụng điểm c khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự để ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Việt A. Thấy rằng việc đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Việt A là đúng bởi Nguyễn Việt A dưới 16 tuổi, là đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án và bản thân Nguyễn Việt A đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Bởi tối ngày 02/6/2022 khi thấy nhóm của N đến, nhóm của Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N đang đứng tụ tập ở khu vực cổng Trường THCS P hoảng sợ, bỏ chạy vào phía trong cổng trụ sở UBND xã Đ, Nhà văn hóa xã Đ. Nhóm của N đi qua cổng trụ sở UBND xã Đ thì N bảo cả nhóm quay lại rồi N điều kH xe chở Q (Q Bin), Dương Tiến Q quay lại dồn đuổi theo xe mô tô của Phùng Văn M đang đi từ phía cổng trụ sở UBND xã Đ ra sau đó tìm chém Duy, N. Còn Nguyễn Việt A và các đối tượng khác nghe nói có Công an nên không ai nghe theo lời N để quay lại tìm nhóm ở xã Đ theo xe của N nữa (Duy nhất chỉ có xe của N chở Văn Q và Tiến Q quay lại), các xe còn lại đi thẳng hướng qua cánh đồng đến ngã tư khu dân cư thuộc thôn Đ, xã Đ thì rẽ trái đi thẳng ra đường QL2C rồi đi lòng vòng và đợi N để về, không ai biết sau khi tách nhóm N và Văn Q, Tiến Q đánh, chém bị hại như thế nào. Như vậy, Nguyễn Việt A và các đối tượng khác đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Đối với các đối tượng còn lại trong nhóm của N, gồm: Dương Đức M, Cao Quang Q, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Duy A, Nguyễn Văn Q (Q Bê), Bùi Quang T, Hà Đình Q, Nguyễn Vũ D, Nguyễn Duy T, Đỗ Tiến Đ, Trần Quang H, Nguyễn Tiến Đ, Tô Văn H, Kim Đình Đ, Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn A, Nguyễn Đức C, Nguyễn Minh T, Tạ Tiến Thành. Kết quả điều tra xác định, tối ngày 02/6/2022, khi cả nhóm tập T tại vòng xuyến Y, mặc dù không có mâu thuẫn, xích mích gì với ai trong nhóm của Duy, N nhưng khi nghe thấy các đối tượng khác trong nhóm bàn bạc, trao đổi về việc đi đánh nhau thì tất cả các đối tượng này đều đồng ý đi đánh nhau. Tuy vậy, khi cả nhóm đi qua UBND xã Đ thì các đối tượng này đều biết việc N lái xe chở Dương Tiến Q và Q (Q Bin) tách nhóm, quay xe lại dồn đuổi nhóm thanh niên xã Đ nhưng không ai quay xe lại đi theo xe do N điều kH mà đi thẳng, rồi tiếp tục đi ra QL2C, vòng quay lại khu vực lúc trước (với khoảng cách hơn 2km). Trong lúc N lái xe chở Dương Tiến Q và Q (Q Bin) đuổi theo Phùng Văn M nhưng không đuổi kịp thì quay lại đuổi theo Duy, N, rồi dùng kiếm chém Duy, N thì các đối tượng này không biết, không tham gia và cũng không hỗ trợ, giúp sức gì, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Khi cả nhóm gặp lại thì N, Dương Tiến Q và Q (Q Bin) đã thực hiện xong hành vi phạm tội. Do đó, các đối tượng này đều không phải cùng chịu trách nhiệm hình sự với N, Dương Tiến Q và Q (Q Bin) về hành vi đánh, chém Duy, N. Ngoài ra, trong suốt quá trình di chuyển thì các đối tượng này đều không hô hào, chửi bới, kích động gì; không đập phá đồ đạc, tài sản gì, nên hành vi của các đối tượng này chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Việc CQĐT không xử lý hình sự đối với các đối tượng này là đúng quy định của pháp luật.

Tuy vậy, các đối tượng này đã có hành vi mang theo các vũ khí thô sơ, công cụ, phương tiện có khả năng gây sát thương như kiếm, côn nhị khúc, gạch để đi đánh nhau, đây là hành vi vi phạm hành chính. Việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc chuyền hồ sơ, tài liệu có liên quan, đề nghị Công an huyện Y xem xét xử phạt hành chính đối với các đối tượng này là đúng quy định của pháp luật.

Đối với các đối tượng trong nhóm của xã Đ, gồm: Nguyễn Khánh D, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Văn L, Phùng Văn M, Nguyễn Văn N, Tô Hoàng H, Nguyễn Quang H, Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đăng Minh, Nguyễn Văn Hùng, Trần Văn D, Trần N T, Tô Thế Q. Các đối tượng này đều là người dưới 18 tuổi (tính đến ngày 02/6/2022), các đối tượng này thường xuyên tụ tập đông người tại khu vực cổng trường THCS P là nơi công cộng vào các buổi tối, trong đó Tô Thế Q là người có mâu thuẫn với Phạm Phi N sau đó đã hòa giải, còn Nguyễn Khánh D là người bị Phạm Phi N dùng côn nhị khúc của Lê Kim N đánh 02 phát ngày 01/6/2022 dẫn đến việc cả hai khiêu khích, thách thức hẹn đánh nhau vào ngày 02/6/2022.

Đến tối ngày 02/6/2022, tại khu vực cổng trường THCS P, gồm có: Nguyễn Khánh D, Nguyễn Hữu N, Nguyễn Văn N, Nguyễn Đức T, Tô Hoàng H, Nguyễn Quang H, Nguyễn Minh Đ, Phùng Văn M, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đăng Minh (khi nhóm N đến thì Nguyễn Đăng Minh ra về trước). Tại đây, cả nhóm được Nguyễn Khánh D thông báo cho biết về việc hẹn đánh nhau với N, sau đó Duy bảo Linh đến nhà Trần N T lấy dao phóng lợn và dao quắm để đánh nhau, nhưng không lấy được, nhóm này không ai chuẩn bị đồ vật, hung khí gì khác để đánh nhau với nhóm của N. Khi nhóm của N đến thì cả nhóm của xã Đ bỏ chạy, không ai hô hào, kích động, chửi bới gì, không ai sử dụng đồ vật, hung khí gì để đánh nhau, không gây thương tích cho ai. Do vậy, hành vi của các đối tượng này không có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc CQĐT không xử lý các đối tượng này là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Trần Văn D, sinh ngày 14/6/2004, trú tại thôn H 2, xã Đ, huyện Y (tính đến ngày 01/6/2022 là 17 tuổi 11 tháng 18 ngày) đã có hành vi mang theo trong người công cụ, phương tiện có khả năng gây sát thương (dao quắm, dao phóng lợn) nhằm mục đích đánh nhau vào các ngày 31/5/2022 và ngày 01/6/2022 là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan, đề nghị Công an huyện Y xem xét xử phạt hành chính đối với Trần Văn D là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Lê Kim N (tính đến ngày 02/6/2022 là 16 tuổi, 02 tháng, 13 ngày) có hành vi tàng trữ trái phép côn nhị khúc (vũ khí thô sơ) là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan, đề nghị Công an huyện Y xem xét xử phạt hành chính đối với N là đúng quy định của pháp luật.

Ngày 01/6/2022, Nguyễn Duy C đã mang thanh kiếm (là vũ khí thô sơ) của Phạm Phi N về cất giấu, tàng trữ tại nhà C là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan, đề nghị Công an huyện Y xem xét xử phạt hành chính đối với C là đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng con người được pháp luật đặc biệt bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hành vi này đã cho thấy ý thức của các bị cáo coi thường pháp luật, coi thường tính mạng con người, phạm tội thuộc trường hợp giết người dưới 16 tuổi và có tính chất côn đồ, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Song cũng chỉ cần cách ly bị cáo khỏi xã hội có thời hạn để bị cáo có cơ hội hướng thiện.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Phạm Phi N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chị Nguyễn Thị Tâm là mẹ đẻ của Phạm Phi N tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ và tại phiên tòa thỏa thuận bồi thường thêm cho bị hại N 10.000.000đ, ngày 18/8/2022 bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này N là người khởi xướng việc phạm tội, là người tích cực nhất, rủ rê, kích động người khác. Trước đó, ngày 22/8/2021 Phạm Phi N có hành vi đánh nhau tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 14/4/2022, Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC đối với Phạm Phi N bằng hình thức cảnh cáo nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, tiếp tục tụ tập và phạm tội. Tuy nhiên bị cáo phạm tội khi mới 15 tuổi 01 tháng 12 ngày và phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự để lượng hình đối với bị cáo. Xét thấy mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

- Bị cáo Dương Tiến Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chị Đào Thị Minh là mẹ đẻ của Dương Tiến Q tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ và tại phiên tòa thỏa thuận bồi thường thêm cho bị hại N 10.000.000đ, ngày 18/8/2022 bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này Dương Tiến Q đồng phạm với N và Q Bin; Dương Tiến Q đã có hành vi đạp ngã N khi N ôm N, sau đó thì N và Q Bin chém N. Tuy nhiên bị cáo phạm tội khi mới 17 tuổi 03 tháng 20 ngày và phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự để lượng hình đối với bị cáo. Xét thấy mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Do bị cáo phạm tội khi đã trên 16 tuổi nên mức hình phạt phải cao hơn đối với N và Nguyễn Văn Q. Ngoài ra bản án số 67/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã tuyên phạt bị cáo Dương Tiến Q 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự (Bản án đã có hiệu lực pháp luật). Do đó, cần căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự để tổng hợp bản án.

- Bị cáo Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngày 11/12/2023 mẹ đẻ của Q là chị Đỗ Thị Hương tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ và tại phiên tòa thỏa thuận bồi thường thêm cho bị hại N 10.000.000đ, ngày 11/12/2023 đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tại phiên tòa mẹ bị cáo nộp giấy xác nhận thương tật và huân chương C sĩ giải phóng của ông Đỗ Tiến Hiệu là ông ngoại bị cáo Q nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này Nguyễn Văn Q là người tích cực phạm tội, cũng cầm kiếm trực tiếp chém N. Trước đó, ngày 22/8/2021 Nguyễn Văn Q có hành vi đánh nhau tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 14/4/2022, Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn Q bằng hình thức cảnh cáo nhưng vẫn không lấy đó làm bài học, nay lại phạm tội. Tuy nhiên bị cáo phạm tội khi mới 15 tuổi 10 tháng và phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự để lượng hình đối với bị cáo. Xét thấy mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về vật chứng và tài sản bị thu giữ:

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, BKS: 88F1 - 589.78, màu sơn: đen - bạc, số máy: JA39E2493180, số khung: RLHJA3922MY468259, ngày 02/6/2022, Phạm Phi N đã điều kH xe này chở Dương Tiến Q và Nguyễn Văn Q (Q Bin). Xe này do ông Nguyễn Văn Q (bố của Nguyễn Việt A) giao nộp ngày 17/6/2022. Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe này là chị Dương Thị Lý (là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A). Buổi tối ngày 02/6/2022 vợ chồng chị Lý đi vắng, để xe ở nhà. Việt A tự ý lấy xe đi, không hỏi gì bố mẹ. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Dương Thị Lý là phù hợp pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88F1 - 125.64, màu sơn nâu, do Hà Thị Kiều Trang (chị gái ruột của Hà Đình Q) giao nộp ngày 10/9/2022. Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS: 88F1 - 125.64 là của ông Hà Đình Khắc- SN 1977, trú tại thôn T, xã L, huyện Y (là bố đẻ của Quang). Ban đầu khi làm việc với Công an huyện Y, Quang đã khai báo không đúng sự thật là Quang điều kH xe mô tô trên đi đánh nhau, nhưng thực tế thì xe này để ở nhà; ông Khắc, do đi làm ăn xa nên để xe ở nhà giao cho ông Hà Đình Tiệp- SN 1942 (là bố đẻ ông Khắc) quản lý, sử dụng. Ngày 02/6/2022, Quang không sử dụng xe này đi đánh nhau, ông Tiệp khóa xe, để xe ở nhà không giao xe cho Quang. Ông Khắc và chị Hà Thị Kiều Trang có đơn xin lại xe mô tô BKS: 88F1 - 125.64; xe này của gia đình ông Khắc làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Hà Đình Khắc là phù hợp pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88F1 - 4871, do chị Nguyễn Thị Hương giao nộp ngày 12/9/2022. Ngày 02/6/2022, Nguyễn Vũ D lái xe này chở Hà Đình Q ngồi sau. Ông Nguyễn Minh Tuân- SN 1977, trú tại thôn T 4, xã L, huyện Y (là bố đẻ của Nguyễn Vũ D), trình bày tại CQĐT: Vào khoảng năm 2012, ông Tuân mua chiếc xe BKS: 88F1 - 4871 này của ông Phạm Văn Tài, trú tại xã Nguyệt Đức, huyện Y, đăng ký xe đứng tên ông Tài, ông Tuân chưa sang tên đổi chủ, khi mua bán thì không có giấy tờ mua bán gì. Buổi tối ngày 02/6/2022, Duy có hỏi mượn ông Tuân chiếc xe trên để đi chơi, uống nước với bạn nên ông Tuân đã đồng ý cho Duy mượn. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh, anh Phạm N Tuân- SN 1983, trú tại thôn Xuân Đài, xã Nguyệt Đức, huyện Y là con trai của ông Phạm Văn Tài cho biết: Hiện ông Tài đang làm ăn tại tỉnh Đồng Nai. Sau khi trao đổi qua điện thoại thì ông Tài xác nhận năm 2012 ông Tài có bán chiếc xe mô tô này cho ông Tuân. Ông Tuân có đơn xin lại chiếc xe mô tô BKS: 88F1-4871, xe này của gia đình làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Nguyễn Minh Tuân là phù hợp pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1-568.79, ngày 02/6/2022, Nguyễn Duy T giao nộp (xe này Toàn lái xe chở Bùi Duy Thường và Nguyễn Việt A). Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu xe này là ông Nguyễn Văn Thư- SN 1962, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y (là bố đẻ của Nguyễn Duy T). Ông Thư có đơn xin lại xe mô tô BKS: 88F1-568.79. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Nguyễn Văn Thư là phù hợp pháp luật

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 88H3-0789, màu sơn nâu, ngày 02/6/2022 Tô Văn H giao nộp, H lái xe này chở Kim Đình Đ và Nguyễn Văn G. Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu xe này là ông Tô Văn Hiền ở Đ, Y (là bố đẻ của Tô Văn H). Ông Hiền có đơn xin lại xe mô tô BKS: BKS: 88H3-0789. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Tô Văn Hiền là phù hợp pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88F1-562.73, màu sơn xanh - đen - bạc, số máy JA39E2268603, số khung RLHJA3925MY150863; ngày 02/6/2022, Nguyễn Tiến D giao nộp xe này (D lái xe này chở Dương Đức M và Cao Quang Q ngồi sau). Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu xe BKS: 88F1-562.73 là ông Nguyễn Văn Bình- SN 1968, trú tại thôn N 2, xã L, huyện Y (là bố đẻ của Nguyễn Tiến D). Ông Bình có đơn xin lại xe mô tô BKS: 88F1-562.73. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Nguyễn Văn Bình là phù hợp pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS: 88F1 - 586.62, màu đen

- bạc; ngày 02/6/2022, Nguyễn Văn A giao nộp xe này cho CQĐT (Anh đã lái xe này chở Nguyễn Đức C và Nguyễn Minh T). Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu xe này là chị Kim Thị Hạnh- SN 1980 ở thôn Y 2, xã Đ, huyện Y (là mẹ đẻ của Nguyễn Văn A). Chị Hạnh có đơn xin lại xe mô tô này. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Kim Thị Hạnh là phù hợp pháp luật.

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu đen, đã cũ, và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 88F1 - 583.11. Kết quả điều tra xác định chủ sở hữu xe này là Nguyễn Duy A, SN 2004 trú tại thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 02/6/2022, An đã lái xe này chở Q (Q Bê) ngồi sau để đi đánh nhau nhưng An và Q (Q Bê) không tham gia, không chứng kiến việc N, Q (Q Bin) và Dương Tiến Q đánh chém Duy và N. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Nguyễn Duy A là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu đen, đã cũ, do Nguyễn Hữu N- SN 2007 trú tại thôn H 3, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giao nộp, đây là tài sản của N. Ngày 26/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đề nghị trích xuất dữ liệu. Ngày 06/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh có Bản kết luận giám định số 2400, trong đó đã trích xuất thu được 12 ảnh chụp trực tiếp màn hình điện thoại thể hiện nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook có tên “N Nguyễn” với tài khoản Facebook có tên “Phạm Phi N” liên quan việc thách thức, hẹn đánh nhau vào tối ngày 02/6/2022. Tuy nhiên, không phải N nhắn tin mà do Duy tự ý lấy điện thoại của N nhắn tin cho N. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho N và điện thoại đã cũ không còn giá trị nhiều nên cũng không cần thiết truy thu điện thoại của N.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng, màn hình có vết nứt vỡ, đã cũ, đã qua sử dụng do chị Dương Thị Lý- SN 1983 trú tại tổ dân phố 2 Đ, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A) giao nộp ngày 15/9/2022, đây là tài sản của chị Lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đề nghị trích xuất dữ liệu. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh có Bản kết luận giám định số 2992, trong đó kết luận không có dữ liệu tin nhắn Messenger cuộc trò chuyện giữa tài khoản đang đăng nhập trên điện thoại với các tài khoản có tên: Phạm Phi N, Bùi Quang T, Tô H, Nguyễn Tiến D, Cao Quang Q, Trần Huy, Q Bin, Dương Quốc Q, Sài Tiến Q, Dương M, Nguyễn Tiến Đ. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho chị Lý là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng, đã cũ do Nguyễn Thị H- SN 2006, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Hằng là bạn gái của Phạm Phi N) giao nộp ngày 12/9/2022, là tài sản của Hằng. Hằng cho biết khoảng 12 giờ 30 phút đến 13 giờ ngày 02/6/2022, tại nhà N thì N có sử dụng chiếc điện thoại này của chị Hằng đăng nhập tài khoản Facebook của N. Chị Hằng thấy có tin nhắn đến nội dung là 19 giờ 30 phút đến đón N và việc đánh nhau hẹn ở xã Đ nhưng chị Hằng không nhớ là ai nhắn tin đến. Chị Hằng không biết việc N mượn điện thoại để hẹn đánh nhau. Cơ quan điều tra đã trả điện thoại cho chị Hằng là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, đã cũ do chị Nguyễn Thị Tâm- SN 1987 trú tại thôn Cung Thượng, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (là mẹ đẻ của N) giao nộp, đây là tài sản của chị Tâm. Ngày 26/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đề nghị trích xuất dữ liệu. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh có Bản kết luận giám định số 2406, kết luận là không tìm thấy tin nhắn giữa tài khoản Facebook có tên “Phạm Phi N” với tài khoản Facebook có tên “N Nguyễn” trên phần mềm ứng dụng Facebook Messenger. Đây là tài sản của chị Tâm, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại này cho chị Tâm là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã cũ của Cao Quang Q, trú tại thôn Tam Kỳ 2, xã Đại Tự, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là tài sản của Q. Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đề nghị trích xuất dữ liệu. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh có Bản kết luận giám định số 2994, trong đó đã trích xuất chụp được 01 ảnh màn hình tin nhắn Messenger cuộc trò truyện giữa tài khoản đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản Messenger tên “Nguyễn Tiến D” trong khoảng thời gian từ ngày 0/4/2022 đến ngày 15/6/2022. Đây là điện thoại Q sử dụng nhắn tin rủ D đi đánh nhau.Tuy nhiên, sau đó Cao Quang Q không đánh nhau nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại này cho Cao Quang Q là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, màu vàng, số IMEI: 357273094804574, đã cũ, đây là tài sản của Trần Quang H- SN 2006 trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giao nộp. Ngày 15/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đề nghị trích xuất dữ liệu. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh có Bản kết luận giám định số 2995, trong đó kết luận: đã trích xuất chụp được 26 ảnh màn hình tin nhắn Messenger cuộc trò truyện giữa tài khoản đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản Messenger tên “Bủi Quang T”, “Tô H”, “Nguyễn Tiến D”, “Cao Quang Q”, trong khoảng thời gian từ ngày 0/4/2022 đến ngày 15/6/2022. Đây là điện thoại Huy sử dụng nhắn tin rủ mọi người đi đánh nhau. Tuy nhiên, sau đó Trần Quang H không đánh nhau nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại này cho Trần Quang H là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 (một) USB nhãn hiệu TOSHIBA, màu bạc, dung lượng 04GB, bên trong có lưu trữ 01 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh gia đình anh Cảnh, do anh Nguyễn Văn Cảnh- SN 1984 trú tại thôn H 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, tự nguyện giao nộp, đây là tài sản của anh Cảnh (đồ vật hoàn lại sau giám định). Cơ quan điều tra đã trả lại USB cho anh Cảnh là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, màu đỏ, dung lượng 08GB, đã qua sử dụng, bên trong có lưu trữ 01 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc do anh Nguyễn Văn Chính là Công chức Văn phòng UBND xã Đ, hiện trú tại thôn H 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giao nộp, đây là tài sản của anh Chính (đồ vật hoàn lại sau giám định). Cơ quan điều tra đã trả lại USB cho anh Cảnh là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 chiếc quần vải thô và 01 đôi dép lê, màu xanh cũ thu của Nguyễn Văn Q, tại phiên tòa Q trình bày không nhận lại những tài sản này do đã cũ nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Tịch thu, tiêu hủy công cụ phạm tội là 04 thanh kiếm, 01 côn nhị khúc, 01 dao quắm, 01 lưỡi dao phóng lợn (dao bầu), các sợi tóc thu của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Khánh D, Dương Tiến Q, Phạm Phi N và Nguyễn Văn Q (Q Bin) là các mẫu trả sau khi trưng cầu giám định.

- Tịch thu, tiêu hủy mẫu tóc còn lại sau giám định thu của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Khánh D, Dương Tiến Q, Phạm Phi N và Nguyễn Văn Q (Q Bin).

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, màn hình bị vỡ (đã cũ) của Dương Tiến Q và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đã cũ của Nguyễn Văn Q do liên lạc để phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 18/8/2022, chị Nguyễn Thị Tâm là mẹ đẻ của Phạm Phi N, chị Dương Thị Lý là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A và chị Đào Thị Minh là mẹ đẻ của Dương Tiến Q đã cùng nhau tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N tổng số tiền là 60.000.000đ, trong đó chị Tâm bồi thường số tiền 30.000.000đ, chị Lý bồi thường số tiền 15.000.000đ, chị Minh bồi thường số tiền 15.000.000đ. Ngày 11/12/2023 mẹ đẻ của Nguyễn Văn Q là chị Đỗ Thị Hương tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ (Ông Nhanh là đại diện bị hại đã nhận tiền).

Ngày 30/01/2023, Nguyễn Hữu N và Nguyễn Khánh D có đơn yêu cầu bồi thường thêm thiệt hại về sức khỏe và tinh thần là 82.513.274đ.

Tại phiên tòa bị hại là anh N, đại diện bị hại là ông Nhanh, bị cáo Phạm Phi N, chị Nguyễn Thị Tâm là đại diện của N, bị cáo Nguyễn Văn Q, chị Đỗ Thị Hương là đại diện của Nguyễn Văn Q và bị cáo Dương Tiến Q và đã thỏa thuận bồi thường thêm cho bị hại N 30.000.000đ (Mỗi bị cáo bồi thường thêm cho bị hại N 10.000.000đ). Xét việc thỏa thuận bồi thường của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo với bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên cần buộc bị cáo Phạm Phi N phải tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Hữu N 10.000.000đ, nếu N không có tài sản để bồi thường thì chị Nguyễn Thị Tâm phải bồi thường thay cho Phạm Phi N; buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Hữu N 10.000.000đ, nếu Q không có tài sản để bồi thường thì chị Đỗ Thị Hương phải bồi thường thay cho Nguyễn Văn Q; buộc bị cáo Dương Tiến Q phải tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Hữu N 10.000.000đ tiền thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

Quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Phi N 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12/8/2022.

3. Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; khoản 2 Điều 101 và khoản 3 Điều 102 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/3/2023.

4. Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; khoản 1 Điều 101 và khoản 3 Điều 102; Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Tiến Q 05 (năm) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc bị cáo Dương Tiến Q phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12/8/2022.

5. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 04 thanh kiếm, 01 côn nhị khúc, 01 dao quắm, 01 lưỡi dao phóng lợn (dao bầu); mẫu tóc còn lại sau giám định thu của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Khánh D, Dương Tiến Q, Phạm Phi N và Nguyễn Văn Q (Q Bin); 01 chiếc quần vải thô và 01 đôi dép lê, màu xanh cũ của Nguyễn Văn Q.

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, màn hình bị vỡ (đã cũ) của Dương Tiến Q và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đã cũ của Nguyễn Văn Q.

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc và Cục thi hành án dân sự Vĩnh Phúc).

6. Về bồi thường dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự:

- Xác nhận chị Nguyễn Thị Tâm là mẹ đẻ của Phạm Phi N đã bồi thường cho Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N 30.000.000đ; chị Dương Thị Lý là mẹ đẻ của Nguyễn Việt A đã bồi thường cho Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N 15.000.000đ; chị Đào Thị Minh là mẹ đẻ của Dương Tiến Q đã đã bồi thường cho Nguyễn Khánh D và Nguyễn Hữu N 15.000.000đ; chị Đỗ Thị Hương mẹ đẻ của Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho Nguyễn Hữu N 15.000.000đ.

- Ghi nhận sự thỏa thuận: Buộc bị cáo Phạm Phi N phải tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Hữu N 10.000.000đ (mười triệu đồng), nếu N không có tài sản để bồi thường thì chị Nguyễn Thị Tâm phải bồi thường thay cho Phạm Phi N; buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Hữu N 10.000.000đ (mười triệu đồng), nếu Q không có tài sản để bồi thường thì chị Đỗ Thị Hương phải bồi thường thay cho Nguyễn Văn Q; buộc bị cáo Dương Tiến Q phải tiếp tục bồi thường cho Nguyễn Hữu N 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thanh toán đủ khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Phi N, Nguyễn Văn Q (tức Q Bin) và Dương Tiến Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại dưới 18 tuổi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ