- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Vũ Văn Quyến phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Qu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HS-ST Ngày: 12 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Thúc.
Bà Nguyễn Thị Hài.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số số 117/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2023/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn Qu, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Vũ Đình D, sinh năm 1959 và bà Vũ Thị Th (đã chết); Vợ Đinh Ngọc Trang, sinh năm 1997, trú tại thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và có 01 con, sinh năm 2021; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ tư; Tiền án, Tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 8/10/2023 đến ngày 17/10/2023 áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Bị hại: Ông Trần Đăng N, sinh năm 1963; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyê ̣n Ý Yên, tinh Nam Đi ̣̉
nh;
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1996; Vắng mặt.
Đi ̣a chi: Thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyê ̣̉
n Ý Yên, tinh Nam Đi ̣̉
nh.
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1957; Vắng mặt.
Đi ̣a chi: Số 96, đường Nam Côi, thị trấn Gôi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.̉
- Anh Đinh Quang A, sinh năm 1997; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyê ̣n Ý Yên, tinh Nam Đi ̣̉
nh.
- Chị Đinh Ngọc Tr, sinh năm 1997; Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyê ̣n Ý Yên, tinh Nam Đi ̣̉
nh.
- Anh Vũ Văn D, sinh năm 1981; Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyê ̣n Ý Yên, tinh Nam Đi ̣̉
nh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn Qu và chị Đinh Ngọc Tr, sinh năm 1997, trú tại số nhà 121 đường Cấn, phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng là vợ chồng. Trước khi lấy Qu, chị Tr có mua một xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe LEAD màu xanh, đen BKS 15B2-942.60. Vào khoảng tháng 10/2021, do gia đình cần tiền nên chị Tr có bảo Qu mang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda LEAD màu xanh, đen BKS 15B2-942.60 của chị Tr đi cầm cố để lấy tiền lo việc gia đình. Qu đã mang chiếc xe mô tô BKS 15B2- 94260 cầm cố cho anh Đinh Quang Anh, sinh năm 1997, trú tại thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định với số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) và nói khi nào có tiền thì đến chuộc lại. Hai bên không có giấy tờ gì mà chỉ trao đổi miệng với nhau. Một thời gian sau, do không thấy Qu đến chuộc xe nên anh Quang A đến hỏi thì Qu trả lời là chưa có tiền để chuộc xe. Anh Quang Anh nói “nếu không chuộc thì sẽ mang đi bán chỗ khác”. Khoảng cuối năm 2021, anh Trần Đăng V, sinh năm 1992 trú tại Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên đã mua lại chiếc xe trên của Quang A cho bố đẻ là ông Trần Đăng N, sinh năm 1963 trú tại Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên để đi lại. Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 08/10/2023, ông Ninh điều khiển xe mô tô BKS 15B2 – 94260 đến nhà ông Trịnh Văn H ở cùng thôn ăn cỗ tân gia, ông Ninh đỗ xe ở đường trục xóm (cạnh nhà ông Phạm Văn M). Khoảng 16 giờ 30 phút, Qu cũng đi ăn cỗ nhà ông Hữu, khi đi ra ngoài cổng Qu nhìn thấy chiếc xe mô tô BKS 15B2 – 942.60 Qu nảy sinh ý định trộm chiếc xe máy nên đi về nhà lấy chìa khóa dự phòng rồi quay trở lại, mở khóa, điều khiển xe mô tô đi đến quán gửi xe của bà Trần Thị Tiện, sinh năm 1957 ở thị trấn Gôi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cất giấu sau đó đi về nhà. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày ông Ninh ăn cỗ xong ra lấy xe thì phát hiện bị mất nên đã trình báo Công an xã Yên Trị giải quyết. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Vũ Văn Qu đến Công an xã Yên Trị đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô trên. Công an xã Yên Trị đã tiếp nhận giải quyết ban đầu và bàn giao đối tượng và hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên giải quyết theo thẩm quyền.
Kết luận định giá số 43 ngày 14/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ý Yên kết luận: 01 chiếc xe mô tô BKS 15B2-942.60, nhãn hiệu Lead, màu sơn xanh nâu tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 08/10/2023 có giá là 13.500.000 (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 17/10/2023, cơ quan CSĐT – Công an huyện Ý Yên ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Vũ Văn Qu về hành vi “ Trộm cắp tài sản”. Tại cơ quan CSĐT- Công an huyện Ý Yên, Qu khai nhận hành vi của mình như đã nêu ở trên.
Tạm giữ 01 chiếc xe mô tô BKS 15B2-942.60, nhãn hiệu Lead, màu sơn xanh đen; 01 đăng ký xe mô tô số 157376, BKS 15B2-942.60 mang tên Đinh Ngọc Tr, trú tại 121 Cấm Gia Viên, Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2017; 01 chìa khoá xe mô tô do anh Vũ Văn D, sinh năm 1980, trú tại thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên giao nộp (chìa khoá xe là do ông N đưa cho D để lên lấy xe chỗ bà T) và 01 chìa khoá xe mô tô do Trần Đăng N giao nộp.
Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô BKS 15B2-942.60, nhãn hiệu Lead, màu sơn xanh đen; 01 đăng ký xe mô tô số 157376, BKS 15B2-942.60 mang tên Đinh Ngọc Trang, trú tại 121 Cấm Gia Viên, Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2017; 02 chìa khoá xe mô tô. Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ý Yên trả lại cho ông Trần Đăng N. Ông N đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho Vũ Văn Qu.
Đối với bà Trần Thị T: bà T không quen biết gì Qu, không biết chiếc xe đó Qu phạm tội mà có. Do đó cơ quan CSĐT – Công an huyện Ý Yên không đặt vấn đề xử lý.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo Vũ Văn Qu đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú; Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bản Cáo trạng số: 118/CTr - VKS- YY ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Vũ Văn Qu về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Văn Qu khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác nhận bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự tuyên bố Vũ Văn Qu phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Vũ Văn Qu từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì vì vậy không đề cập giải quyết.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn Qu không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 08/10/2023, tại đường trục xóm cạnh nhà ông Trịnh Văn H ở thôn Hạc Bổng, xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Vũ Văn Qu đã có hành vi lén lút lấy chiếc xe mô tô Honda Lead, BKS 15B2-942.60 của ông Trần Đăng N, trị giá 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nên tình hình mất trật tự trị an xã hội nói chung, ảnh hưởng xấu đến phong trào bảo vệ an ninh ở địa phương, gây sự bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên đã truy tố.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Vũ Văn Qu, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Vũ Văn Qu được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do không có thu nhập ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 15B2-942.60, nhãn hiệu Lead, màu sơn xanh đen; 01 đăng ký xe mô tô số 157376, BKS 15B2-942.60 mang tên Đinh Ngọc Trang, trú tại 121 Cấm Gia Viên, Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/12/2017; 02 chìa khoá xe mô tô. Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ý Yên trả lại cho ông Trần Đăng N và ông Ninh không có đề nghị gì khác nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Qu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn Qu 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Văn Qu cho Ủy ban nhân dân xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Văn Qu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Vũ Văn Qu phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Văn Qu phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Nam Định;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh, huyện Ý Yên;
- Công an huyện Ý Yên;
- T.H.A dân sự huyện Ý Yên;
- Phòng lưu trữ CA tỉnh Nam Định;
- Bị cáo;
- Người bị hại;
- UBND xã Yên Trị;
- Lưu HS, VP.
Lê Hoàng Minh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Hoàng Minh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh, huyện Ý Yên; - Công an huyện Ý Yên; - T.H.A dân sự huyện Ý Yên; - Phòng lưu trữ CA tỉnh Nam Định; - Bị cáo; - Người bị hại; - UBND xã Yên Trị; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Minh |