- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ch - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 121/2023/HS-ST Ngày: 06/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lò Thị Cải
2. Ông Cà Văn Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2023/TL-HSST ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Ch, Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ 5, phường Th, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn V và con bà: Nguyễn Thị Th; Vợ: Lò Thị H (Đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 15/10/2020 Ch bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 25/9/2020 đến 25/5/2022 chấp hành xong. Nhân thân: Ngày 08/9/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 10/4/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 17/7/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 08/01/2010, bị Công an phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Ngày 25/8/2010, Ch bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản; Ngày 27/5/2013, Ch bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 23/6/2016, Ch bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 28/02/2020 Ch chấp hành xong hình phạt tù của bản án này. Phạm Văn Ch đã chấp hành xong toàn bộ các bản án trên, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/02/2023 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1. Anh Hoàng Mạnh Ch1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Đ tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
2. Chị Dương Minh H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Đ tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
- Người đại diện theo ủy quyền của chị Dương Minh H: Anh Hoàng Mạnh Ch1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Đ tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Th - sinh năm: 1986. Địa chỉ: Bản Ph, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).
2. Bà Nguyễn Thị Th2, sinh năm: 1952. Địa chỉ: Tổ 5, phường Th, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn Th, xã Th, huyện Đ tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ, ngày 04/02/2023 Phạm Văn Ch đi bộ từ nhà ở tổ 5, phường Th, thành phố Đ, mục đích tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến Thôn Th, xã Th, huyện Đ tỉnh Điện Biên, Ch nhìn thấy một ngôi nhà xây 2 tầng của gia đình ông M, có mi cửa sổ bằng bê tông cao cách mặt hè 2,45m, liền đi đến dùng hai tay đu theo mi cửa trèo lên hành lang tầng 2, rồi đi dọc hành lang qua một nhà đến tầng hai nhà vợ chồng anh Hoàng Mạnh Ch1 và chị Dương Minh H, quan sát xung quanh thấy cửa trên tầng hai khóa, có một lỗ thoáng (0,42m×0,5m) gần mái nhà và nhìn thấy một chiếc thang tre gần đó. Ch lấy thang dựng vào tường, rồi trèo lên chui qua lỗ thoáng vào bên trong tầng hai nhà anh Ch1, Ch đi theo cầu thang xuống phòng ngủ tầng một lấy ở bàn trang điểm một chiếc điện thoại di động Samsung A32 màu xanh, trị giá 4.360.000 đồng và một chiếc điện thoại Samsung J4 Core màu xanh bị vỡ màn hình, trị giá 300.000 đồng bỏ vào túi quần bên phải đang mặc. Ch đi sang phòng khách thì nhìn thấy trên kệ tủ có một con cóc màu vàng làm bằng gỗ nghiến, đường kính 30cm, cao 25cm, trị giá 1.800.000 đồng, Ch bê con cóc đi đến cửa sổ lấy chùm chìa khóa mở cửa phòng khách, rồi đi ra chỗ để 02 chiếc xe mô tô, Ch dùng chìa khoá cắm sẵn ở xe mở cốp của 02 xe thì phát hiện trong cốp chiếc xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát 27N1-031.51, trị giá 16.000.000 đồng có 01 túi nilon bên trong đựng giấy tờ xe, Ch lấy giấy tờ bỏ vào túi quần, đóng cốp xe lại, để con cóc gỗ lên chỗ để chân xe mô tô Honda Lead, rồi lấy chìa khoá mở cửa xếp sắt, điều khiển xe đi về nhà. Khi cách nhà khoảng 200m, Ch dừng xe lại, để con cóc ở ven đường, điều khiển xe vào khu vực bãi hoang gần trung tâm SOS tỉnh Điện Biên để xe ở đó. Ch rút chìa khóa xe bỏ vào túi áo rét bên phải đang mặc rồi đi bộ quay trở lại chỗ để con cóc gỗ, lấy hai chiếc điện thoại trộm cắp được tháo ba sim điện thoại vứt xuống rãnh nước gần đó, rồi cất hai chiếc điện thoại vào túi quần, bê con cóc gỗ về cất giấu ở nhà.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Ch mang 02 chiếc điện thoại trộm cắp được đến quán Hoàng Nguyên, ở Tổ 10, phường M, thành phố Điện Biên Phủ gặp chủ quán là anh Nguyễn Văn Th, Ch nói dối là điện thoại nhặt được, anh Th không biết hai chiếc điện thoại trên do Ch trộm cắp nên đồng ý mua với giá 1.700.000 đồng và chuyển khoản trả tiền cho Ch qua tài khoản của Ngân Hàng VietinBank được cài trong chiếc điện thoại Samsung A70 màu xanh. Số tiền bán điện thoại, Ch đã chi tiêu hết 500.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 02/KL-ĐGTS, ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Điện Biên, kết luận: Một chiếc điện thoại di động Samsung A32 màu xanh, trị giá 4.360.000 đồng và một chiếc điện thoại Samsung J4 Core màu xanh bị vỡ màn hình, trị giá 300.000 đồng; một con cóc màu vàng làm bằng gỗ nghiến, đường kính 30cm, cao 25cm, trị giá 1.800.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát 27N1-031.51, trị giá 16.000.000 đồng. Tổng giá trị là: 22.460.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 10/02/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã trả lại cho anh Hoàng Mạnh Ch1 01 Chiếc xe mô tô Honda loại Lead biển kiểm soát 27N1-031.51; 01 chiếc điện thoại di động Samsung A32 màu xanh; 01 chiếc điện thoại Samsung J4 Core màu xanh đã bị vỡ màn hình; 01 con cóc màu vàng bằng gỗ nghiến, đường kính 30cm, cao 25cm; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mô tô, xe máy đều mang tên Hoàng Mạnh Ch1. Ngày 31/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Th2 (là mẹ bị cáo) 01 chiếc điện thoại Samsung A70 màu xanh.
Bản cáo trạng số: 68/CT-VKSHĐB ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Phạm Văn Ch về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo đồng ý và không tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Phạm Văn Ch khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 04/02/2023, tại nhà của gia đình anh Hoàng Mạnh Ch1 ở Thôn Th, xã Th, huyện Đ tỉnh Điện Biên, Ch đã có hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt của vợ chồng anh Hoàng Mạnh Ch1 và chị Dương Minh H, gồm: Một chiếc điện thoại di động Samsung A32 màu xanh, trị giá 4.360.000 đồng; chiếc điện thoại Samsung J4 Core màu xanh bị vỡ màn hình, trị giá 300.000 đồng; một con cóc màu vàng làm bằng gỗ nghiến, đường kính 30cm, cao 25cm, trị giá 1.800.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát 27N1-031.51, trị giá 16.000.000 đồng. Tổng giá trị là: 22.460.000 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Ch khai mục đích trộm cắp những tài sản trên để bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, đơn trình báo của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 173 quy định: "Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Phạm Văn Ch là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Phạm Văn Ch về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích là chiếm đoạt tài sản và đã hoàn thành cả về hành vi và hậu quả của tội Trộm cắp tài sản. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Phạm Văn Ch không có tiền án nhưng có nhân thân rất xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 06 tiền án nhưng đã được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số: 19/2006/HSST ngày 08/9/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, ngày 24/11/2006 chấp hành xong hình phạt tù; Tại Bản án số: 59/2007/HSST ngày 10/4/2007, Ch bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 19/12/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Tại Bản án số: 57/2008/HSST ngày 17/7/2008, Ch bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 15/7/2009 chấp hành xong hình phạt tù; Tại Bản án số: 69/2010/HSST ngày 25/8/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 09/11/2011 chấp hành xong hình phạt tù; Tại Bản án số: 49/2013/HSST ngày 27/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 06/5/2015 chấp hành xong hình phạt tù; Tại Bản án số: 62/2016/HSST ngày 23/6/2016, Ch bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 4 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 28/02/2020 chấp hành xong án phạt tù. Cho đến nay bị cáo đã chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trong vụ án hình sự và trách nhiệm dân sự của các bản án trên. Bị cáo có 01 tiền sự nhưng đã được xóa tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 01/QĐ-XPVPHC Ngày 08/01/2010, bị Công an phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ xử phạt cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng và 01 tiền sự cho đến nay chưa được xóa tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 26/2020/QĐ - TA ngày 15/10/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội với thời hạn 20 tháng, ngày 25/5/2022 chấp hành xong trở về địa phương sinh sống. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma túy từ nhiều năm nay, vì muốn có tiền để chi tiêu và mua ma túy sử dụng cho bản thân nên đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Văn Th số tiền 1.700.000 đồng để khắc phục hậu quả, mặt khác bố đẻ của bị cáo đã được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng Ch hạng nhì nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ thời gian tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy từ nhiều năm nay, sống phụ thuộc bố mẹ, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về vật chứng vụ án: Ngày 10/02/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã trả lại cho anh Hoàng Mạnh Ch1 01 Chiếc xe mô tô Honda loại Lead biển kiểm soát 27N1-031.51; 01 chiếc điện thoại di động Samsung A32 màu xanh; 01 chiếc điện thoại Samsung J4 Core màu xanh đã bị vỡ màn hình; 01 con cóc màu vàng bằng gỗ nghiến, đường kính 30cm, cao 25cm; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mô tô, xe máy đều mang tên Hoàng Mạnh Ch1 theo Quyết định xử lý vật chứng số: 03 ngày 10/02/2023 và Ngày 31/3/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Th2 (là mẹ bị cáo) 01 chiếc điện thoại Samsung A70 màu xanh theo Quyết định xử lý vật chứng số: 09 ngày 31/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Xét thấy, việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra.
[6] . Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa của anh Hoàng Mạnh Ch1 và anh Nguyễn Văn Th đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Bà Nguyễn Thị Th2 không yêu cầu giải quyết đối với số tiền 1.700.000 đồng bà bỏ ra bồi thường cho anh Nguyễn Văn Th. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trách nhiệm dân sự.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với bà Nguyễn Thị Th2 không biết việc bị cáo cất giấu tài sản trộm cắp trong nhà ở của mình và anh Nguyễn Văn Th không biết điện thoại Ch bán là do phạm tội mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với những người này.
Đối với chiếc điện thoại Samsung A70 màu xanh bị cáo mượn của bà Nguyễn Thị Th2, bà Th2 không biết việc bị cáo dùng chiếc điện thoại này để chuyển tiền bán tài sản trộm cắp. Vì vậy, cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với bà Th2.
[8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Phạm Văn Ch 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (06/02/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số: 03 ngày 10/02/2023 và Quyết định xử lý vật chứng số: 09 ngày 31/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt (bà Nguyễn Thị Th2) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2023). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt (anh Nguyễn Văn Th) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - HSNV Công an huyện ĐB; - CQĐT Công an huyện ĐB; - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Chi cục Thi hành án DSHĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Công an trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ vụ án; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |