vanban.org

Bản án 121/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Vũ Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc A cho UBND xã PT, huyện PX, TP Hà giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được H án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được H án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc A - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Vũ Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HS-PT
Ngày: 17-02-2023

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Ông Phan Huy Cương

Ông Nguyễn Thanh Nhã

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền

- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố HN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HN xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 11/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện PX, HN.

* Bị cáo bị kháng cáo:

NGUYỄN NGỌC A, sinh ngày 10/11/1984 tại HN; ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn KL, xã PT, huyện PX, TP HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H; có vợ Nguyễn Thị Y và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Bị hại có kháng cáo:

Anh Vũ Văn H (tức Tr), sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn KL, xã PT, huyện PX, TP HN, có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Ông Nguyễn Hồng Đ - Luật sư Công ty luật TNHH PĐ thuộc Đoàn luật sư thành phố HN, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc A và anh gia đình anh Nguyễn Văn H có mâu thuẫn từ trước với nhau về rãnh nước thải. Trưa ngày 05/3/2022, anh H uống rượu rồi đi làm, đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì về nhà, do vẫn bực tức gia đình Nguyễn Ngọc A lấp đoạn cống rãnh thoát nước thải, H đứng ở sân nhà H chửi sang phía nhà A: “Đ.m chúng mày, chúng mày lấp cống rãnh của tao, chúng mày thích gì, Đ.M thằng Minh”, H chửi một lúc, rồi đi vào trong nhà mở nhạc hát karaoke, không thấy A nói lại, H đi xuống bếp cầm 01 đoạn gỗ đi đến đứng trước cổng nhà A chửi tiếp. Nghe tiếng H chửi, A liền đi ra chửi nhau với H, được mọi người can ngăn, H bỏ về nhà. Bực mình vì bị H chửi, A và vợ là Nguyễn Thị Y lại ra đứng trước cửa ngõ nhà H chửi nhau với vợ chồng H, lúc này H cùng vợ là Trương Thị Kim O, cầm nắm cát ném về phía vợ chồng A, vợ chồng A cũng nhặt gạch ném vào sân nhà Hưởng. Sau đó, A chạy về nhà lấy một đoạn gậy bằng kim loại, một đầu có gắn dao dọn, có chiều dài khoảng 113cm, đường kính khoảng 02 cm, chạy quay lại đứng cách cánh cổng nhà anh H khoảng 30cm, dùng đoạn gậy bằng kim loại ở tay phải chọc đầu nhọn qua khe cửa cổng sắt trúng vào cẳng tay trái và mu bàn tay trái anh Vũ Văn H, làm anh H bị thương, chảy nhiều máu và được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện PX điều trị từ ngày 05/03/2022 đến ngày 10/03/2022 ra viện. Ngày 06/03/2022, anh Vũ Văn H có đơn yêu cầu khởi tố Nguyễn Ngọc A về hành vi cố ý gây thương tích cho anh H.

Cơ quan Công an huyện PX đã tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng gồm: 01 thanh kim loại màu trắng dài 113cm, hình tròn, một đầu bằng, một đầu gắn dao nhọn dài 10cm, có một đầu nhọn, một cạnh sắc. 01 thanh gậy gỗ, bản dẹt, dài 80cm, rộng 8cm. 01 bao tải có chứa 06 viên gạch cũ, đã vỡ có kích thước (2 x 6)cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 611/TTPY ngày 13/5/2022 của Trung tâm pháp y sở y tế HN kết luận: Sẹo vết thương cẳng tay trái: 02%; sẹo vết thương mu bàn tay trái: 01%. Cơ chế hình thành thương tích do vật cạnh sắc gây nên - Tỷ lệ tổn hại sức khỏe 03%.

Về trách nhiệm dân sự: Phía anh H yêu cầu Nguyễn Ngọc A phải bồi thường thương tích, tiền thuốc, tiền mất thu nhập, tiển tổn thất tinh thần tổng cộng là 69.012.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Ngọc A tự nguyện nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện PX 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 85/2022/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện PX đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt Nguyễn Ngọc A 12 tháng tù, nhưng cho bị cáo H án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Áp dụng điều 48 BLHS, các điều 584, 585, 587,589, 590 và khoản 2 điều 468 BLDS, Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Ngọc A bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho anh Vũ Văn H (tức Tráng), với tổng số tiền là 30.000.000 đồng.

Đối trừ số tiền 20.000.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện nộp bồi thường trả cho anh H tại phiếu thu số 0036536, ngày 18/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PX, bị cáo còn phải thanh toán trả anh Vũ Văn H 10.000.000 đồng.

- Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi xuất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/12/2022 bị hại Vũ Văn H có đơn kháng cáo đề nghị không cho bị cáo H án treo, yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại 69.012.000 đồng và khởi tố tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với hành vi của ông Cương (anh rể của bị cáo).

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Bị hại Vũ Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị không cho bị cáo H án treo, yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại hơn 73 triệu đồng và khởi tố tội “Gây rối trật tự công cộng” đối với hành vi của ông Cương (anh rể của bị cáo).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của bị hại đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt và mức bồi thường thiệt hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: cấp sơ thẩm nhận định hành vi phạm tội của bị cáo chưa đúng bản chất, bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, chuẩn bị trước, biết trước hậu quả, bỏ mặc hậu quả xẩy ra, coi thường pháp luật; tòa sơ thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo H án treo là không đủ căn cứ, không thể hiện tính răn đe, phòng ngừa; tòa sơ thẩm căn cứ vào Nghị quyết 02/2006 ngày 08/7/2006 là không đúng mà phải căn cứ vào nghị quyết 03/2006 ngày 08/7/2006 và Điều 590 Bộ luật Dân sự. Luật sư đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường 73.392.146 đồng và xem xét hành vi gây rối trật tự công cộng của vợ bị cáo và các đối tượng khác.

Trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HN, bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị hại Vũ Văn H đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc A tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 05/03/2022, do có mâu thuẫn cãi, chửi nhau mà bị cáo Nguyễn Ngọc A đã thực hiện hành vi cầm đoạn gậy sắt có gắn một lưỡi dao nhọn, nhiều lần chọc qua khe cửa cổng sắt nhà anh Vũ Văn H trúng vào cẳng tay trái và mu bàn tay trái của anh Vũ Văn H gây thương tích tổn hại 03% sức khỏe. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc A đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị hại anh Vũ Văn H đề nghị xử tù giam đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án; xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, là người đang thờ cúng liệt sĩ; phía bị hại cũng có lỗi là người khơi mào cho xung đột, nhiều lần gây hấn, chửi bới, cầm cát ném về phía vợ chồng bị cáo, ít nhiều đã kích động bị cáo gây án đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt 12 tháng tù, nhưng cho H án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, không bắt bị cáo Nguyễn Ngọc A phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là phù hợp và cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo Nguyễn Ngọc A trở thành con người có ích cho xã hội. Bị hại anh Vũ Văn H kháng cáo song không đưa ra được căn cứ nào mới, do vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị hại, cần giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm.

Đối với đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 73.392.146 đồng của bị hại anh Vũ Văn H thì Hội đồng xét xử nhận thấy tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tỉ lệ thương tích, quá trình khám chữa bệnh của anh H, các chi phí hợp lý, thực tế và căn cứ vào các quy định của pháp luật về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã tính các khoản tiền thuốc 2.372.146 đồng; tiền tàu xe đi lại khám chữa bệnh 02 lượt x 200.000 đồng/lượt = 400.000 đồng; tiền mất thu nhập 30 ngày x 300.000 đồng/ngày = 9.000.000 đồng; tiền giảm sút thu nhập 30 ngày x 150.000 đồng/ngày = 4.500.000 đồng; tiền bồi dưỡng trước, trong và sau khi ra viện 4.500.000 đồng; tiền tổn thất về tinh thần 1,5 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 2.235.000 đồng; tiền xét nghiệm Covid 120.000 đồng. Tổng cộng là: 23.127.146 đồng và ghi nhận sự tự nguyện bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng của bị cáo cao hơn số tiền phải bồi thường theo quy định là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị hại anh Vũ Văn H kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại song không đưa ra căn cứ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.

Đối với việc bị hại Vũ Văn H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị khởi tố vụ án hình sự đối với anh Lê Văn Cương (em rể của bị cáo) cùng các đối tượng khác có hành vi gây rối trật tự công cộng thì trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi gây rối của các đối tượng. Vì vậy Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bị hại Vũ Văn H.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo không có kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Vũ Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 12 (Mười hai) tháng tù, cho H án treo; thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc A cho UBND xã PT, huyện PX, TP Hà giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được H án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được H án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được H án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho H án treo.

- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 587, 589, 590 và khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự, chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Ngọc A bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho anh Vũ Văn H (tức Tráng) tổng số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Đối trừ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) mà bị cáo đã tự nguyện nộp bồi thường trả cho anh H tại phiếu thu số 0036536, ngày 18/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PX, bị cáo còn phải thanh toán trả anh Vũ Văn H 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ