- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tham ô tài sản - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 353 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HS-PT Ngày: 20/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường
Ông Bích Văn Nhiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 và ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 117/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Thuận; nơi thường trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện tại: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phan Thị Kim H2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án có bị hại nhưng không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/11/2021, Công ty cổ phần G ký hợp đồng lao động số: MN.361259-1/2021/HĐLĐ, thời hạn từ ngày 21/11/2021 đến ngày 20/11/2022 với Nguyễn Văn H. Theo nội dung hợp đồng, H làm việc tại Chi nhánh Công ty cổ phần G có địa chỉ tại thôn X, xã P, thành phố P với nhiệm vụ là COD của Công ty; giao, nhận hàng hóa; thu hộ tiền từ khách hàng và nộp lại đầy đủ tiền thu hộ cho Công ty. Cụ thể, hàng ngày vào lúc 07 giờ 30 phút, H nhận các đơn hàng được phân công giao cho khách hàng, cập nhật thông tin các đơn hàng vào app GHTK Drivers&X (app do công ty cung cấp), xác nhận thông tin các đơn hàng với nhân viên điều phối kho, sau đó H sẽ thực hiện việc đi giao hàng.
Khi giao hàng, H phải cập nhật trạng thái đơn hàng vào app GHTK Drivers&X như sau: giao hàng thành công (tức là đơn hàng đã được giao hàng thành công và đã thu tiền thu hộ từ khách), delay giao hàng (tức là giao hàng không thành công và chưa thu tiền thu hộ của đơn hàng). Hàng ngày, vào lúc 12 giờ 30 phút hoặc 17 giờ 30 phút, H phải bàn giao lại số tiền đã thu hộ từ các đơn đã giao hàng thành công và bàn giao lại các đơn hàng giao không thành công cho điều phối kho để chốt ca.
Do muốn nghỉ việc tại Công ty nên trong khoảng thời gian từ ngày 16/8/2022 đến ngày 25/8/2022, H đã có hành vi giao hàng thành công và thu hộ tiền của 06 đơn hàng của 05 khách hàng với tổng số tiền là 17.377.500 đồng nhưng không nộp về cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền trên. Cụ thể:
- Đơn hàng có mã đơn là 1030135366, do shop M gửi cho bà Phan Thị Thanh N (sinh năm 1994, thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), sản phẩm là yến, có trị giá thu hộ là 2.300.000đồng. H cập nhật thông tin đơn hàng vào app GHTK Drivers&X vào lúc 08 giờ 02 phút ngày 18/8/2022. H đã giao hàng thành công đơn hàng cho bà N vào ngày 20/8/2022 và đã thu hộ số tiền 2.300.000đồng nhưng không cập nhật trạng thái giao hàng thành công vào app và không nộp lại số tiền 2.300.000đồng cho Công ty. Để tránh bị công ty phát hiện, H đã cập nhật trạng thái đơn hàng delay 06 lần vào lúc 11 giờ 42 phút ngày 18/8/2022, 13 giờ 25 phút ngày 19/8/2022; 14 giờ 02 phút ngày 20/8/2022, 13 giờ 35 phút ngày 21/8/2022; 13 giờ 48 phút ngày 22/8/2022 và 13 giờ 29 phút ngày 23/8/2022.
- Đơn hàng có mã đơn là 1063960629, do shop M gửi cho bà Phan Thị Thanh N, sản phẩm là yến có trị giá thu hộ là 4.600.000đồng. H cập nhật thông tin đơn hàng vào app GHTK Drivers&X vào lúc 13 giờ 57 phút ngày 18/8/2022. H đã giao hàng thành công đơn hàng cho bà N vào ngày 19/8/2022 và đã thu hộ số tiền 4.600.000 đồng nhưng không cập nhật trạng thái giao hàng thành công vào app và không nộp lại số tiền 4.600.000đồng cho Công ty. Để tránh bị công ty phát hiện, H đã cập nhật trạng thái đơn hàng delay 06 lần vào lúc 17 giờ 12 phút ngày 18/8/2022; 13 giờ 25 phút ngày 19/8/2022; 14 giờ 02 phút ngày 20/8/2022; 13 giờ 35 phút ngày 21/8/2022; 13 giờ 48 phút ngày 22/8/2022; 13 giờ 29 phút ngày 23/8/2022.
Đơn hàng có mã đơn là 1125636864, do shop M3 gửi cho ông Nguyễn Xuân T (sinh năm 1992, trú tại thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), sản phẩm là đồng hồ có trị giá thu hộ là 2.200.000đồng. H cập nhật thông tin đơn hàng vào app GHTK Drivers&X vào lúc 08 giờ 04 phút ngày 20/8/2022. H đã giao hàng thành công đơn hàng cho ông T vào ngày 20/8/2022 và đã thu hộ số tiền 2.200.000đồng nhưng không cập nhật trạng thái giao hàng thành công vào app và không nộp lại số tiền 2.200.000đồng cho Công ty. Để tránh bị công ty phát hiện, H đã cập nhật trạng thái đơn hàng delay 05 lần vào lúc 13 giờ 52 phút ngày 20/8/2022; 13 giờ 38 phút ngày 21/8/2022; 13 giờ 41 phút ngày 22/8/2022; 13 giờ 13 phút ngày 23/8/2022; 13 giờ 20 phút ngày 24/8/2022.
Đơn hàng có mã đơn là 1488151690, do shop Sáng M1 gửi cho ông Lê Thanh S (sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), sản phẩm là đồ công nghiệp có trị giá thu hộ là 2.275.000đồng, H cập nhật thông tin đơn hàng vào app GHTK Drivers&X vào lúc 15 giờ 37 phút ngày 20/8/2022. H giao hàng thành công cho ông S vào ngày 21/8/2022 và đã thu hộ số tiền 2.275.000đồng nhưng không cập nhật trạng thái giao hàng thành công vào app và không nộp lại số tiến 2.275.000đồng cho Công ty. Để tránh bị Công ty phát hiện, H đã cập nhật trạng thái đơn hàng delay 05 lần vào lúc 16 giờ 57 phút ngày 20/8/2022; 13 giờ 36 phút ngày 21/8/2022; 13 giờ 30 phút ngày 22/8/2022; 13 giờ 05 phút ngày 23/8/2022 và 13 giờ 09 phút ngày 24/8/2022.
- Đơn hàng có mã đơn là 1512074589, do shop KN BEAUTY Gò Vấp gửi cho bà Phạm Thị Hồng L (sinh năm 1982, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), gồm 08 sản phẩm mỹ phẩm có trị giá thu hộ là 1.070.000đồng. H cập nhật thông tin đơn hàng vào app GHTK Drivers&X vào lúc 07 giờ 45 phút ngày 21/8/2022. H giao hàng thành công cho bà L1 vào ngày 22/8/2022 và đã thu hộ số tiền 1.070.000đồng nhưng không cập nhật trạng thái giao hàng thành công vào app và không nộp lại số tiền 1.070.000đồng cho Công ty. Để tránh bị Công ty phát hiện, H đã cập nhật trạng thái đơn hàng delay 03 lần vào lúc 12 giờ 31 phút ngày 21/8/2022; 13 giờ 52 phút ngày 22/8/2022 và 13 giờ 25 phút ngày 23/8/2022.
Đơn hàng có mã đơn là 1502460357, do shop Võ Phụng M2 Trần gửi cho ông Nguyễn Duy H3 (sinh năm 1979, trú tại thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận), sản phẩm võ phục có trị giá thu hộ là 4.932.500đồng. H cập nhật thông tin đơn hàng vào app GHTK Drivers&X vào lúc 07 giờ 53 phút ngày 22/8/2022. H đã giao hàng thành công đơn hàng cho ông H3 vào ngày 23/8/2022 và đã thu hộ số tiền 4.932.500đồng nhưng không cập nhật trạng thái giao hàng thành công vào app và không nộp lại số tiền 4.932.500đồng cho Công ty. Để tránh bị Công ty phát hiện, H đã cập nhật trạng thái đơn hàng delay 02 lần vào lúc 17 giờ 11 phút ngày 22/8/2022, và lúc 13 giờ 27 phút ngày 23/8/2022.
Đến ngày 26/8/2022, nhân viên điều phối kho phát hiện các đơn hàng H đã thao tác delay trên hệ thống app GHTK Drivers&X nêu trên chưa được H bàn giao về kho tại thôn X, xã P, thành phố P của Công ty nên đã liên hệ với 05 khách hàng nêu trên thì phát hiện các đơn hàng đều đã được giao thành công.
Về dân sự: Ông Lê Đình P là đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần G yêu cầu Nguyễn Văn H trả lại cho số tiền 17.377.500 đồng đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo H đã khắc phục một phần thiệt hại cho Công ty cổ phần G số tiền 12.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:
Căn cứ vào c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 05/9/2023, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, giảm nhẹ hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù.
- Ý kiến của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn H phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn H là nhân viên hợp đồng của Công ty cổ phần G, H được giao nhiệm vụ nhận các đơn hàng, giao hàng cho khách, thu tiền hộ; có trách nhiệm quản lý các đơn hàng và tiền thu hộ từ khách hàng, nộp lại cho Công ty theo đúng thời hạn quy định. Trong khoảng thời gian từ ngày 19/8/2022 đến ngày 23/8/2022, lợi dụng nhiệm vụ được giao và thu hộ tiền các đơn hàng. H đã có hành vi chiếm đoạt 06 lần với tổng số tiền 17.377.500 đồng. Cụ thể:
- Đơn hàng mã số 1030135366: chiếm đoạt số tiền thu hộ 2.300.000 đồng.
- Đơn hàng mã số 1063960629: chiếm đoạt số tiền thu hộ 4.600.000 đồng.
- Đơn hàng mã số 1125636864: chiếm đoạt số tiền thu hộ 2.200.000 đồng.
- Đơn hàng mã số 1488151690: chiếm đoạt số tiền thu hộ 2.275.000 đồng.
- Đơn hàng mã số 1512074589: chiếm đoạt số tiền thu hộ 1.070.000 đồng.
- Đơn hàng mã số 1502460357: chiếm đoạt số tiền thu hộ 4.932.500 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội nhiều lần, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cải; tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn H đã hoàn trả cho bị hại 12.000.000 đồng là một phần số tiền bị cáo đã chiếm đoạt để khắc phục hậu quả; đồng thời bị cáo từng là quân nhân xuất ngũ; đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng với mức án 03 năm tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xác nhận bị cáo có người thân (ông nội thứ) là ông Nguyễn Thanh B được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, huân chương kháng chiến hạng nhì và ông Nguyễn Hoàng Đ được tặng thưởng huân chương độc lập hạng ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ trên tại Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng thêm.
Ngoài ra bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới là đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đại diện bị hại, có xác nhận bị cáo đã khắc phục số tiền còn lại là 5.377.500đồng cho Công ty cổ phần G. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, do có thêm tình tiết khắc phục hậu quả, bị cáo đã hoàn trả hết toàn bộ số tiền chiếm đoạt nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo như ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2023/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/11/2023).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND, VKSND, CQCSĐT Công an thành phố Phan Thiết; - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Thái |