vanban.org

Bản án 121/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 22/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 07/9/2012cho chị Nguyễn Thị Ttrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị tuyết - Nguyễn văn Lam"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22- 5- 2023
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

ÔngHồ Bá Vo ̃

Bà Nguyễn Thi ̣ Quế Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2023/TLST-HNGĐ ngày 23/02/2023về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số91/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4năm 2023và Quyết định hoãn phiên toà số 134/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2023,giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 15/01/1987; địa chỉ: Khối 4, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 20/7/1983; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối 10 (nay là khối Yên Sơn), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Hiện sống tại Đài Loan; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khainguyên đơn chị Nguyễn Thị Ttrình bày:Chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/11/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau. Đến năm 2016, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và ly thân với nhau. Anh Nguyễn Văn L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan năm 2016 và về phép năm 2018, sau đó anh L lại sang Đài Loan sinh sống và làm việc từ đó đến nay. Vợ chồng không liên lạc và quan tâm đến nhau từ năm 2016. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Tkhởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Lcó một con chung là Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 07/9/2012. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T đề nghị được trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L:Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn làanh Nguyễn Văn L vắng mặt. Chị Nguyễn Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh Lcư trú, chịchỉ biết anh Lđang ở Đài Loan.Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, đồng thời gửi Thông báo thụ lý vụ án cho anh Lthông quaông Nguyễn Văn Nến và bà Đinh Thị Thanh(là bố mẹ đẻ của anh L), tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Văn Nến và bà Đinh Thị Thanhcung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Ông Nguyễn Văn Nến và bà Đinh Thị Thanh trình bày:anh Lthỉnh thoảngliên lạc với ôngbà qua điện thoạinhưng không choông bàbiết địa chỉ cụ thể của anh ở Đài Loan.Anh L đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh NghệAn đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T với anh.Theo ông Nến, bà Thanh thì anh Lđồng ý với các yêu cầu về việc ly hôn của chị T. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào của anh L thể hiện ý kiến liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.

Cháu Nguyễn Thị Khánh H có ý kiến: Cháu là con của bố Nguyễn Văn L và mẹ Nguyễn Thị T. Khi bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với ông bà ngoại và mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được bố mẹ đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn, nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét thấy chị Nguyễn Thị T có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An vào năm 2011, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau. Đến năm 2016, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và ly thân với nhau. Anh Nguyễn Văn L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan năm 2016 và về phép năm 2018, sau đó anh L lại sang Đài Loan sinh sống và làm việc từ đó đến nay.Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được,đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về con chung: Đề nghị giao con chung là Nguyễn Thị Khánh Hcho chị Nguyễn Thị Ttrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Văn L không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con do chị Tkhông yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tkhông yêu cầu nên không xem xét; chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Nguyễn Văn L; trong đó chị T, anh L có hộ khẩu thường trú tại khối 10 (nay là Yên Sơn), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; bị đơn anh Nguyễn Văn Lđã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay Nội Bài lần cuối là ngày 22/4/2018đến nay chưa nhập cảnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn L vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai củaông Nguyễn Văn N và bà Đinh Thị T(là bố mẹ đẻ của anh L, địa chỉ: khối Yên Sơn, phường Nghi Thuỷ, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An)yêu cầu ông Nến, bà Thanh cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh Lbiết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh L.Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn N và bà Đinh Thị Tkhông cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh L do anh L không cho ông bàbiết; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh L liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của anh L trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơntheo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơntheo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Lkết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hônngày 23/11/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Đến năm 2016, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và ly thân với nhau. Anh Nguyễn Văn L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan năm 2016 và về phép năm 2018, sau đó anh L lại sang Đài Loan sinh sống và làm việc từ đó đến nay. Đến nay, chị Tkhông còn tình cảm vợ chồng với anh L nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Ltheo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L có một con chung là Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 07/9/2012. Hiện nay, cháuHuyền đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng đượctrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccác con, không yêu cầu anh Lđóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Xét nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là nguyện vọng chính đáng của người mẹ. Cháu Nguyễn Thị Khánh Hcòn nhỏ và đang sống với chị T.Cháu Huyền cũng có nguyện vọng được ở với mẹ.Vì vậy,để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các con cần giao con chung Nguyễn Thị Khánh Hcho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tkhông yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị T, anh L có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tphải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Khánh H, sinh ngày 07/9/2012cho chị Nguyễn Thị Ttrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn L có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tphải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp (ông Chu Quang Minh nộp thay) tại Cục thi hành án dân sựtỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012691ngày14/02/2023.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáotrong hạn01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Bá Vo Nguyễn Thi ̣̃

Quế Anh Nguyễn Thị Hải Minh

Cỡ chữ