- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Lê Hồng V.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Thanh.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 270/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Ông Lê Hồng V, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Bà T có đơn xin vắng mặt. Ông V vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/4/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà T trình bày:
Bà với ông V là vợ chồng hợp pháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 040, quyển số 01/2002, do Ủy ban nhân dân xã, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/5/2002.
Từ nhiều năm nay, vợ chồng của bà không hợp nhau về lối sống, cuộc sống vợ chồng có nhiều xung đột, thường xuyên cự cãi, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà với ông Vũ ly t từ năm 2022 đến nay.
Do mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không hòa giải hàn gắn được nữa, nên bà yêu cầu xin ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà với ông V có một người con chung tên Lê Tiến V1, sinh ngày 11/6/2001. Hiện cháu V1 đã thành niên, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bà T có đơn xin vắng mặt. Ông V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T và ông V theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà T với ông V chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 02/5/2002, nên quan hệ hôn nhân giữa bà T với ông V là hợp pháp. Bà T xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như trên, làm cho tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T yêu cầu xin ly hôn với ông V. Nhưng ông V cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu xin ly hôn của bà T nên theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà T có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà T với ông V có một người con chung tên Lê Tiến V1, sinh ngày 11/6/2001. Hiện cháu V1 đã thành niên, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông V không có ý kiến trình bày, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Lê Hồng V.
2. Án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0017641 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vậy bà T đã thi hành xong án phí.
3. Bà T, ông V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang - VKSND huyện Cai Lậy; - Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Vĩnh Đức |