vanban.org

Bản án 121/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Th.

Buộc bà Hà Mộng L trả cho bà Thạch Thị Th 06 lần hụi sống đã đóng bằng 6.740.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08). Bà Thạch Thị Th không yêu cầu tính lãi. Buộc bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) trả cho bà Thạch Thị Th 06… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/DSST
Ngày: 22-6-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Chấm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Nhiễm;

Ông Nguyễn Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2022/TLST–DS, ngày 17-10-2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXXST-DS, ngày 26-5-2023; giữa:

Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Th, sinh năm 1961; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn:

1. Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt);

2. Ông Thạch Ma N, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (đã chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Thạch Ma N:

1. Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (vợ ông Ma N, vắng mặt);

2. Chị Thạch Nhung B, sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (con ông Ma N, vắng mặt);

3. Thạch Hà Nhật T, sinh năm 2010; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (con ông Ma N, vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của Thạch Hà Nhật T: Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (là mẹ ruột, vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Thạnh Thị Th trình bày:

Ngày 29/3/2018 bà có tham gia dây hụi số 08 do bà L và ông Ma N làm chủ hụi, hình thức tham gia góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 5.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, chủ hụi có giao danh sách hụi viên cho bà (danh sách tên Th Xiên), có 14 phần, huê hồng đầu thảo hưởng 2.000.000 đồng/lần hốt; hụi vụ; sau khi hốt hụi, chủ hụi có trách nhiệm gom tiền của hụi viên rồi giao cho người trúng thăm hốt hụi, dây hụi đã khui đến lần thứ 06, ở lần khui thứ 07 chủ hụi úp hụi, cụ thể:

Lần 01: Hà Mộng L (Tâm, chủ hụi) bỏ thăm 2.100.000 đồng, bà đóng hụi sống 2.900.000 đồng;

Lần 02: Kim Thị Sóc Kha (Nhà Ngọc) bỏ thăm 2.700.000 đồng, bà đóng hụi sống 2.300.000 đồng;

Lần 03: Hà Mộng L (Tâm, chủ hụi) bỏ thăm 2.550.000 đồng, bà đóng hụi sống 2.450.000 đồng;

Lần 04: Phạt Phó bỏ thăm 2.700.000 đồng, bà đóng hụi sống 2.300.000 đồng;

Lần 05: Huỳnh Thị Sa Manh (Sa Manh Thê) bỏ thăm 2.590.000 đồng, bà đóng hụi sống 2. 410.000 đồng;

Lần 06: Thạch Thị Hồng Bạch (Đầy) bỏ thăm 2.880.000 đồng, bà đóng hụi sống 2.120.000 đồng;

Ở lần khui thứ 07 bà L và ông Ma N úp hụi.

Nay bà yêu cầu bà Hà Mộng L và hàng thừa kế của ông Thạch Ma N (đã chết) trả cho bà 06 lần hụi sống đã đóng bằng 13.480.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08), không yêu cầu tính lãi.

Bà Thạch Thị Th có đơn xin vắng mặt.

Đối với bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà L làm đại diện): Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các thủ tục như Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà L làm đại diện) không đến Tòa án tham gia tố tụng, Tòa án không tiến hành lấy lời khai của đương sự nên không thể xác định được những tình tiết nào của vụ án mà các bên đã thống nhất và không thống nhất. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp tài liệu chứng cứ gồm: Danh sách hụi viên (photo); chứng minh nhân dân tên Th (photo); Bị đơn không có cung cấp tài liệu chứng cứ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Riêng bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) chưa chấp hành theo quy định của pháp luật còn vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Th.

2. Buộc bà Hà Mộng L trả cho bà Thạch Thị Th 06 lần hụi sống đã đóng bằng 6.740.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08). Bà Thạch Thị Th không yêu cầu tính lãi.

3. Buộc bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) trả cho bà Thạch Thị Th 06 lần hụi sống đã đóng bằng 6.740.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08) trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma N chết để lại. Bà Thạch Thị Th không yêu cầu tính lãi.

4. Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Thạch Ma N (đã chết), Tòa án đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Thạch Ma N gồm: Bà Hà Mộng L (đồng thời là bị đơn), chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cha mẹ ông Thạch Ma N đã chết.

Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại; Bị đơn ông Thạch Ma N (đã chết), bà Hà Mộng L cư trú tại huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần; Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Bà Thạch Thị Th có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.

Bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) trong quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Thạch Thị Th yêu cầu bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) trả cho bà 06 lần hụi sống đã đóng bằng 13.480.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08). Bà Thạch Thị Th không yêu cầu tính lãi.

Đối với bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) mặc dù không đến Tòa án để giải quyết với bà Th, nhưng Tòa án có sao gửi các chứng cứ mà bà Th nộp khởi kiện gồm: đơn khởi kiện, danh sách hụi viên thể hiện bà Th là hụi viên có tham gia góp hụi ở dây hụi trên và những chứng cứ khác có liên quan để đương sự có ý kiến hoặc phản bác về những chứng cứ mà bà Th nộp khởi kiện. Trong quá trình giải quyết, Tòa án có xác minh hụi viên có ý kiến: Ngày 29/3/2018, bà L và ông Ma N có tổ chức khui dây hụi số 08, loại hụi 5.000.000 đồng, có 14 phần có hụi viên bà Thạch Thị Th (Th Xiên) cùng tham gia, dây hụi bà L và ông Ma N tổ chức khui đến lần thứ 06. Do bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) không có ý kiến về các nội dung bà Th khởi kiện, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.

Xét thấy, mặc dù ông Ma N không trực tiếp giao dịch tiền hụi với bà Thạch Thị Th, nhưng giao dịch góp hụi của bà L (chủ hụi) với hụi viên diễn ra trong thời kỳ hôn nhân giữa bà L và ông Ma N, ông Ma N biết việc bà L làm chủ hụi nhưng không có phản đối, cho nên Hội đồng xét xử xác định số nợ trên là nợ chung của bà L và ông Ma N. Do đó bà L có trách nhiệm trả cho bà Th ½ số nợ, ½ số nợ còn lại là của ông Ma N, do ông Thạch Ma N đã chết nên những người kế thừa quyền và nghĩa tố tụng của ông Ma N là bà L, chị B và Nhật T (do bà L làm đại diện) có trách nhiệm trả cho bà Th trong phạm vi tài sản của ông Ma N chết để lại.

Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, do bà Th không có yêu cầu tính lãi nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Hà Mộng L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Buộc bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà L làm đại diện) phải chịu án phí dân sự tương ứng với phần yêu cầu của bà Thạch Thị Th đối với ông Ma N (đã chết) được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Khoản 4, điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma N chết để lại.

Nguyên đơn bà Thạch Thị Th không phải chịu án phí.

Xét thấy, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 39, 74, 91, 92, 147, 227, 228, 273, 280, 615 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng các Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Th.

2. Buộc bà Hà Mộng L trả cho bà Thạch Thị Th 06 lần hụi sống đã đóng bằng 6.740.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08). Bà Thạch Thị Th không yêu cầu tính lãi.

3. Buộc bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà Hà Mộng L làm đại diện) trả cho bà Thạch Thị Th 06 lần hụi sống đã đóng bằng 6.740.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 29/3/2018, dây hụi số 08) trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma N chết để lại. Bà Thạch Thị Th không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí:

4.1. Buộc bị đơn bà Hà Mộng L phải chịu 337.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4.2. Buộc bà Hà Mộng L, chị Thạch Nhung B và Thạch Hà Nhật T (do bà L làm đại diện) phải chịu 377.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trong phạm vi tài sản của ông Thạch Ma N chết để lại.

4.3. Bà Thạch Thị Th không phải chịu án phí; Hoàn trả số tiền 337.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011470 ngày 12-10-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh trả lại cho bà Thạch Thị Th.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng măt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ