- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nam T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2022/HSST Ngày: 28 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Soan
2. Bà Châu Thị Lệ
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ lê Quỳnh Thư
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 103/2022/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Nam T; giới tính: Nam, sinh năm 2002 tại tỉnh P; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh P; nơi cư trú: đường M, Phường N, quận G, Tp. H; Nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1977) và bà Nguyễn Thị B(sinh năm 1976); Hoàn cảnh gia đình chưa vợ con; Tiền án, tiền sự : không. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 03/3/2022 (Có mặt).
Bị hại :
- Anh Hoàng Trọng C, sinh năm 1992; Trú tại: Đường M, Phường N, quận G, Tp. H (có yêu cầu vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
- Anh Phạm Hải T1, sinh năm 1990 - chủ Cửa hàng cầm đồ M; Trú tại: Đường N, Phường B, quận G, Tp. H (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh P (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Nam T ở ghép với anh Hoàng Trọng C, sinh năm 1992, HKTT: Thôn T, xã M, huyện T, tỉnh TB tại phòng trọ số K địa chỉ đường M, Phường N, quận G. Khoảng hơn 2h sáng ngày 28/02/2022, sau khi đi làm về thì Nguyễn Nam T trở về phòng trọ và thấy anh C đã ngủ say, chìa khóa xe mô tô Yamaha Sirius biển số: 64K1-190.34 thuộc sở hữu của C đang để trên bàn trong phòng. Lúc này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh C nên lén lút lấy chìa khóa di chuyển xuống bãi giữ xe tại tầng trệt của khu trọ rồi điều khiển xe đến Cửa hàng cầm đồ M địa chỉ: Đường N, Phường B, quận G cầm được số tiền 5.500.000 đồng rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện mất xe anh C liên lạc với T biết T lấy xe. Sau đó, anh C nhắn tin yêu cầu trả xe nhưng T nói dối là xe đang bị Công an giữ nên ngày 02/03/2022, anh Hoàng Trọng C đến trình báo tại Công an Phường 14, quận Gò Vấp.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Nam T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc xe mô tô Yamaha Sirius biển số: 64K1-190.34.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 64K1-190.34, số khung RLCUE3220GY002860, số máy E3X9E-007160. Tại kết quả định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp quận-UBND quận Gò Vấp kết luận: 01 xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Sirius, biển số 64K1-190.34, số khung RLCUE3220GY002860, số máy E3X9E-007160 đã qua sử dụng 28/02/2022 trị giá 11.500.000 đồng. Qua xác minh chiếc xe trên do chị Nguyễn Thị P, địa chỉ: Tổ S, TN, TL, B, tỉnh V hiện chị P không có mặt tại địa phương đi đâu không rõ nên không lấy được lời khai. Anh C khai mua chiếc xe trên tại tiệm cầm đồ H, địa chỉ: đường N, Phường L, quận G có giấy tờ mua bán. Qua làm việc với đại diện tiệm cầm đồ H xác định chiếc xe trên chủ tiệm cầm đồ mua lại của 01 thanh niên không rõ lai lịch thời gian đã lâu, sau đó bán lại cho anh Hoàng Trọng C.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung j6 màu đỏ;
- 01 áo sơ mi tay dài màu đen và 01 quần dài vải màu đen;
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 49/LNK ngày 17/03/2022 và Phiếu nhập kho vật chứng số 38/PNL ngày 17/03/2022.
Đối với cửa hàng cầm đồ M do ông Phạm Hải T1 làm quản lý, anh T1 khai nhận có cầm chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 64K1-190.34 với giá 5.500.000 đồng nhưng không biết xe trên do T phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 04/03/2022, bà Nguyễn Thị B là mẹ của T đã bồi thường số tiền 5.500.000 đồng cho anh Phạm Hải T1 (đại diện cửa hàng cầm đồ Minh Tá), bà B cho luôn T số tiền trên. Anh T1 đã nhận số tiền 5.500.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 107/Ctr-VKS, ngày 19/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Nam T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Nam T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khỏan 1 Điều 173, điểm b, i, s khỏan 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam T mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
- Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 64K1-190.34, số khung RLCUE3220GY002860, số máy E3X9E-007160 cho ông Hoàng Trọng C
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung j6 màu đỏ
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen và 01 quần dài vải màu đen
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 11.500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Nam T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với cửa hàng cầm đồ Minh Tá do ông Phạm Hải T1 làm quản lý, anh T1 khai nhận có cầm chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 64K1-190.34 với giá 5.500.000 đồng nhưng không biết xe trên do T phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại anh Hoàng Trọng C có yêu cầu vắng mặt nhưng qua hồ sơ và Biên bản làm việc tại Tòa ghi nhận, anh C yêu cầu được nhận lại chiếc xe máy bị cáo đã chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.
Đối với số tiền 5.500.000 đồng bị cáo đã nhận của anh Phạm Hải T1 khi cầm chiếc xe máy bị chiếm đoạt, bị cáo khai đã tiêu xài hết. Bà Nguyễn Thị B là mẹ ruột của bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền trên cho anh T1, bà xác định cho luôn bị cáo không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 64K1-190.34, số khung RLCUE3220GY002860, số máy E3X9E-007160. Qua xác minh chiếc xe trên do chị Nguyễn Thị P, địa chỉ: Tổ S, TN, TL, B, tỉnh V, hiện chị P không có mặt tại địa phương đi đâu không rõ nên không lấy được lời khai. Anh C khai mua chiếc xe trên tại tiệm cầm đồ H có giấy tờ mua bán. Qua làm việc với đại diện tiệm cầm đồ H xác định chiếc xe trên chủ tiệm cầm đồ mua lại của 01 thanh niên không rõ lai lịch thời gian đã lâu, sau đó bán lại cho anh Hoàng Trọng C. Xét, mặc dù chưa hoàn tất thủ tục mua bán nhưng anh C là người sử dụng và bị chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông Hoàng Trọng C.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung j6 màu đỏ là tư vật của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- 01 áo sơ mi tay dài màu đen và 01 quần dài vải màu đen là vật dụng bị cáo mặc thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nam T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam T 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2022
Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 64K1-190.34, số khung RLCUE3220GY002860, số máy E3X9E-007160 cho ông Hoàng Trọng C
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung j6 màu đỏ
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi tay dài màu đen và 01 quần dài vải màu đen
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 38/PNK ngày 17/3/2021 của Công an quận Gò Vấp)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Viện kiểm sát quận Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương |