- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê C (ĐP) - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê C phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2022/HSST. Ngày: 22/7/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương.
Bà Lê Thị Kim Xuyến.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 108/2022/HSST, ngày 28 tháng 6 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Lê C, sinh năm 1985 tại Phú Yên; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn Phước Lộc 1, xã Hòa Thành, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ hiện nay: ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đáo và bà Nguyễn Thị Nho; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh em; Bị cáo có vợ là chị Võ Thị C, sinh năm 1987 và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ C an huyện Nhơn Trạch.
2. Nguyễn Xuân L, sinh năm 1993 tại Phú Yên; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn Lộc Đông, xã Hòa Thành, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ hiện nay: ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Sơn và bà Phạm Thị Đương; bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ C an huyện Nhơn Trạch.
3. Trần L1, sinh năm 1987 tại Phú Yên; Tên gọi khác: Tèo Em; Hộ khẩu thường trú: thôn Phước Bình Bắc, xã Hòa Thành, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ hiện nay: ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Lai và bà Lê Thị Lệ; bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em; bị cáo có vợ là Đỗ Thị Thùy Nhiên, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ C an huyện Nhơn Trạch.
4. Ngô Văn C, sinh năm 1990 tại Phú Yên; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ hiện nay: ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Chẳn (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tuyết (đã chết); bị cáo là con út trong gia đình có 04 chị em; bị cáo có vợ là Trần Thị Trúc Linh, sinh năm 1998 và có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ C an huyện Nhơn Trạch.
5. Dƣơng Tấn D, sinh năm 1997 tại Phú Yên; Tên gọi khác: Nháy; Hộ khẩu thường trú: thôn Lộc Đông, xã Hòa Thành, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ hiện nay: ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ hồ; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn Bảy và bà Hà Thị Dung; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 02 anh em và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/11/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ C an huyện Nhơn Trạch.
Bị hại:
+ C an xã L1 T, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Người đại diện: Ông Phạm Hải K – chức vụ: Trưởng C an xã L1 Tân.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Bùi Thanh Bảo Tr, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đáo, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng:
+ Anh Phạm Tuấn Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Xóm Hố, xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Bình Phú, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
+ Chị Võ Thị C, sinh năm 1987 (có mặt).
Hộ khẩu thường trú: Thôn Phước Lộc 1, xã Hòa Thành, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Chỗ ở hiện nay: Ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 02/11/2021, tổ C tác tuần tra của C an xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch tiến hành tuần tra trên tuyến đường Lý Tự Trọng thuộc ấp Vĩnh Tuy, xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện Lê C đang điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, không đeo khẩu trang khi tham gia giao thông. Tổ C tác đã yêu cầu Lê C dừng xe mô tô để kiểm tra, khi C dừng xe, nhận thấy C có biểu hiện đã sử dụng rượu, bia. Tổ C tác yêu cầu C xuất trình 01 Chứng minh nhân dân, 01 Giấy phép lái xe mô tô. Tổ C tác mời Lê C về trụ sở C an xã L1 Tân để lập biên bản vi phạm hành chính, Lê C chấp hành lên xe được anh Bùi Thanh Bảo Trung - C an viên chở về trụ sở. Trên đường về trụ sở C an xã L1 Tân đến đoạn đường Kim Đồng, Lê C đã với tay định tắt máy xe của anh Trung và siết cổ anh Trung. Tổ C tác đã kịp thời khống chế đưa Lê C về trụ sở C an xã L1 Tân làm việc, Lê C đã được C an xã L1 Tân giải thích về các hành vi vi phạm của Lê C, C an xã L1 Tân đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi “không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người có nguy cơ mắc dịch bệnh theo hướng dẫn của cơ quan y tế, không đeo khẩu trang khi tham gia giao thông trên đường”, “điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm theo quy định, không xuất trình được giấy đăng ký xe” và lập biên bản tạm giữ 01 xe mô tô Yamaha Exciter biển số 78C1- 471.72, màu xanh đen; 01 CMND số xxxxxxxxx, 01 Giấy phép lái xe mô tô số xxxxxxxxxxxx mang tên Lê C, sinh ngày 01/02/1985, ĐKTT: xã Hòa Bình, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Sau khi lập hồ sơ vi phạm xong tổ C tác đã cho Lê C đi về và hẹn ngày lên giải quyết.
Sau khi ra khỏi trụ sở C an xã L1 Tân, Lê C đã nhắn tin vị trí của mình cho Nguyễn Xuân L, Võ Thị C (vợ của Lê C) và Lê C yêu cầu mang dao cho C. Nguyễn Xuân L đã gọi thêm Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D đi trên ba xe mô tô đến vị trí mà C đang đứng chờ.
Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D mang theo con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại đến cho C. Còn Võ Thị C điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển số 78F1-215.12, màu đen chạy đến chỗ Lê C sau cùng, do không biết đường đi, khi đến nơi thì C đứng đợi phía ngoài để chờ chở Lê C về nhà trọ. Khi gặp L thì C lấy dao từ L rồi cùng L, L1, C chạy vào trụ sở C an xã L1 Tân; còn D đứng ngoài giữ xe mô tô. Khi C cầm dao đi đến khu vực các anh C an xã L1 Tân đang nằm nghỉ gồm: Bùi Thanh Bảo Trung, Nguyễn Văn Điệp, Phạm Tuấn Đạt, với mục đích chém các anh trong C an xã L1 Tân; thấy vậy, Trung, Điệp, Đạt bỏ chạy ra phía sau trụ sở. Lúc này, C cầm cây dao vừa đi vừa la, chửi bới, tìm kiếm các anh C an xã L1 Tân để đánh và dùng dao chém vào xe mô tô, đập vào các cánh cửa của trụ sở làm hư hỏng: 05 cửa kính, 01 màn hình máy tính Dell, 01 cây quạt hiệu Senko, 01 xe máy Yamaha Exciter của anh Trung để phía trước nhà làm việc. Còn L, L1, C đi đến nhà bếp của sân bóng L lấy 01 con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại đuổi theo anh Trung về phía sân bóng bên hông trụ sở. Sau đó, C, L, L1, C ra phía sau nhà để xe mô tô bẻ khóa cổ xe Yamaha Exciter biển số 78C1- 471.72, màu xanh đen mà C an xã L1 Tân đã tạm giữ trước đó, L, L1, C, D đem xe Yamaha Exciter biển số 78C1-471.72 về nhà trọ cất giấu, còn C chở C đi về.
Sau khi sự việc xảy ra ông Phạm Hải Kao - Trưởng C an xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch đã báo cáo C an huyện Nhơn Trạch chỉ đạo phối hợp các Đội nghiệp vụ tổ chức truy bắt được Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D, Võ Thị C lập hồ sơ xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐG ngày 09/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhơn Trạch kết luận: 01 xe mô tô Exciter biển số 78C1- 471.72, màu xanh đen, có trị giá là 25.800.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 132/KL-HĐĐG ngày 17/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhơn Trạch kết luận: 01 bộ áo Exciter, 01 bộ đồng hồ, 01 bộ chóa đèn, 02 bộ C tắc, bộ xe, 02 bộ cặp mâm, cánh bộ tay lái đước, 02 tay thắng, yên xe, cảng, bọc biển số, 02 bao tay cầm, 02 gù tay cầm, dây dầu, heo dầu dước, đĩa trước, phuộc trước, Ic, ốc xe, C rã ráp; 01 màn hình máy tính Dell 21 inch; 01 cây quạt đứng hiệu Senko, mã sản phẩm DCN 1906, C xuất 65 W; 04 kính cửa lớn diện tích 155cm x 60cm x 5ly; 01 kính cửa sổ diện tích 140cm x 60cm x 5ly, có trị giá là 15.848.960 đồng.
Nguyên nhân các bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D phạm tội là do các bị cáo không kiềm chế được bản thân, thiếu nhận thức và hiểu biết về pháp luật nên phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đại diện gia đình bị cáo Lê C (ông Lê Đáo là bố ruột) đã bồi thường thiệt hại 21.110.000 đồng.
Về tang vật thu giữ:
+ 02 con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại.
+ 01 xe Dream màu nho, biển số 78F6- 4660.
+ 01 xe Wave màu đỏ, biển số 60V5- 7656.
+ 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh đen, biển số 78C1- 471.72 đã xử lý vật chứng trả lại cho C an xã L1 Tân để xử lý theo quy định pháp luật.
+ 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 78F1-215.12, màu đen đã xử lý vật chứng trả lại cho Võ Thị C.
+ 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh của Lê C.
+ 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A21s, màu tím của Nguyễn Xuân L.
+ 01 điện thoại hiệu Oppo F7, màu đỏ của Võ Thị C.
Quá trình điều tra, các bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSNT, ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Lê C về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 17, Điều 38, điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê C từ 08 năm – 8 năm 06 tháng tù về tội “cướp tài sản” và từ 20.000.000 đồng – 25.000.000 đồng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng Điều 17, Điều 38, điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L từ 07 năm 06 tháng – 08 năm tù.
Xử phạt bị cáo Trần L1 từ 04 năm – 04 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn C từ 04 năm – 04 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Dương Tấn D từ 03 năm – 03 năm 06 tháng tù
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Toà án tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy 02 con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại là C cụ dùng vào việc phạm tội.
+ Tịch thu sung C quỹ nhà nước 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh của Lê C, 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A21s, màu tím của Nguyễn Xuân L là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
+ Trả lại cho Võ Thị C 01 điện thoại hiệu Oppo F7, màu đỏ không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Lê C đã bồi thường cho Bùi Thanh Bảo Trung, Trần Văn Hoàng – đại diện C an xã L1 Tân, các bị hại trên không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại C an xã L1 Tân, anh Bùi Thanh Bảo Tr; Người làm chứng anh Phạm Tuấn Đ, anh Nguyễn Văn Đ1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vì đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra C an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa các bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu đã thu thập được tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có cơ sở kết luận: Ngày 02/11/2021, tại trụ sở C an xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Lê C đã gọi điện thoại và nhắn tin vị trí cho Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D mang theo dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại đến tại trụ sở C an xã L1 Tân cướp tài sản là xe mô tô biển số 78C1 - 471.72, màu xanh đen đã bị lực lượng C an xã L1 Tân lập biên bản tạm giữ hành chính trước đó (thời điểm này chiếc xe đang thuộc quyền quản lý của C an xã L1 Tân, huyện Nhơn Trạch), có giá trị là 25.800.000 đồng. Riêng bị cáo Lê C còn là người trực tiếp cầm hung khí là con dao dài 60 cm, xông vào trụ sở C an xã L1 Tân đập phá và làm hư hỏng tài sản gồm: 01 bộ áo Exciter, 01 bộ đồng hồ, 01 bộ chóa đèn, 02 bộ C tắc, bộ xe, 02 bộ cặp mâm, cánh bộ tay lái đước, 02 tay thắng, yên xe, cảng, bọc biển số, 02 bao tay cầm, 02 gù tay cầm, dây dầu, heo dầu dước, đĩa trước, phuộc trước, Ic, ốc xe, C rã ráp của Bùi Thanh Bảo Trung; 01 màn hình máy tính Dell 21 inch; 01 cây quạt đứng hiệu Senko, mã sản phẩm DCN 1906, C xuất 65 W; 04 kính cửa lớn diện tích 155cm x 60cm x 5ly; 01 kính cửa sổ diện tích 140cm x 60cm x 5ly của trụ sở C an xã L1 Tân với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 15.848.960 đồng thì bị phát hiện bắt giữ, xử lý.
Hành vi của bị cáo Lê C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 168 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với hành vi của Võ Thị C có đến nơi xảy ra sự việc. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã tiến hành đối chất nhưng không có chứng cứ để chứng minh việc C tham gia thực hiện hành động giúp sức cho Lê C cùng đồng phạm thực hiện tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra C an huyện Nhơn Trạch không xử lý là phù hợp.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo C là người khởi xướng hành vi phạm tội; các bị cáo Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C và Dương Tấn D là người giúp sức trong vụ án. Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân C, cấu kết chặt chẽ nhưng các bị cáo cùng thống nhất ý chí về việc cướp tài sản là chiếc xe mô tô biển số 78C1-471.72, màu xanh đen đã bị lực lượng C an xã L1 Tân lập biên bản tạm giữ hành chính trước đó. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do xem thường pháp luật nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình. Trong quá trình điều tra gia đình bị cáo Lê C đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và bị hại anh Bùi Thanh Bảo Trung có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Xuân L có cha ruột là ông Nguyễn Văn Sơn tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế và có quyết định về hưởng trợ cấp một lần. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Vai trò của các bị cáo và mức hình phạt áp dụng: Xét vai trò của các bị cáo là đồng phạm giản đơn nên cần đánh giá tính chất mức độ vai trò của từng bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.
Bị cáo Lê C là chính phạm trong vụ án bị cáo là người điện thoại cho bị cáo Nguyễn Xuân L mang theo dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại đến tại trụ sở C an xã L1 Tân cướp tài sản là xe mô tô biển số 78C1 - 471.72, màu xanh đen đã bị lực lượng C an xã L1 Tân lập biên bản tạm giữ hành chính trước đó. Bị cáo cũng là người trực tiếp dùng dao chém gây hư hỏng tài sản của bị hại là C an xã L1 Tân và anh Bùi Thanh Bảo Tr. Vì vậy đối với bị cáo cần có một mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra.
Bị cáo Nguyễn Xuân L là đồng phạm trong vụ án, sau khi được bị cáo C điện thoại nói đem theo con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại đến trụ sở C an xã L1 Tân cướp tài sản là xe mô tô biển số 78C1 - 471.72, màu xanh đen đã bị lực lượng C an xã L1 Tân lập biên bản tạm giữ hành chính trước đó thì L đồng ý, L là người tích cực tham gia và rủ thêm Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D cùng tham gia. Quá trình xảy ra sự việc bị cáo cũng có hành vi dùng 01 con dao tự chế lấy tại trụ sở C an xã L1 Tân để rượt đuổi C an xã để cướp tài sản, vì vậy đối với bị cáo cũng cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Bị cáo Trần L1, Ngô Văn C là đồng phạm trong vụ án, sau khi được bị cáo L rủ đi đến chỗ bị cáo Lê C thì L1 và C đồng ý, quá trình xảy ra sự việc hai bị cáo cũng đi vào trong khuôn viên trụ sở của C an xã L1 Tân để thực hiện hành vi cướp tài sản, các bị cáo là người trực tiếp dắt chiếc xe mô tô biển số 78C1 - 471.72, màu xanh đen đã bị lực lượng C an xã L1 Tân lập biên bản tạm giữ hành chính trước đó về phòng trọ của bị cáo Lê C. Các bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo C là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo không can ngăn mà còn tích cực tham gia. Vì vậy đối với các bị cáo cũng cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra. Tuy nhiên xét thấy vai trò của các bị cáo trong vụ án là giúp sức thứ yếu. Do đó mức án đối với các bị cáo nhẹ hơn so với bị cáo C và bị cáo L.
Bị cáo Dương Tấn D là đồng phạm trong vụ án, sau khi được bị cáo L rủ đi đến chỗ bị cáo Lê C, bị cáo đồng ý. Bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo C là vi phạm pháp luật nhưng không thực hiện việc can ngăn mà vẫn tham gia. Vì vậy đối với bị cáo cũng cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là đồng phạm trong vụ án nhưng có vai trò không đáng kể. Do đó mức án đối với bị cáo nhẹ hơn so với các bị cáo còn lại.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cần tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại là C cụ dùng vào việc phạm tội.
Tịch thu sung C quỹ Nhà nước: 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh của Lê C, 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A21s, màu tím của Nguyễn Xuân L là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Trả lại cho chị Võ Thị C 01 điện thoại hiệu Oppo F7, màu đỏ không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh đen, biển số 78C1- 471.72 đã trả lại cho C an xã L1 Tân để xử lý theo quy định pháp luật nên không xem xét, giải quyết.
+ 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 78F1-215.12, màu đen đã xử lý vật chứng trả lại cho Võ Thị C là đúng quy định pháp luật nên không xem xét, giải quyết.
Riêng đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nho, biển số 78F6- 4660, xe mô tô Wave màu đỏ, biển số 60V5- 7656 thu giữ trong quá trình bắt giữ Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D, tuy nhiên đến nay chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Nhơn Trạch tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau theo đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Gia đình bị cáo Lê C đã bồi thường cho bị hại anh Bùi Thanh Bảo Tr và C an xã L1 Tân; các bị hại trên không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê C phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng Điều 38; điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/11/2021 về tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo 20.000.000 đồng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng Điều 38; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/11/2021.
Áp dụng Điều 38; điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần L1 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/11/2021.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/11/2021.
Xử phạt bị cáo Dương Tấn D 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 03/11/2021.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 con dao dài khoảng 60 cm, có cán dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại là C cụ dùng vào việc phạm tội.
Tịch thu sung C quỹ Nhà nước: 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh của Lê C, 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A21s, màu tím của Nguyễn Xuân L là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Trả lại cho chị Võ Thị C 01 điện thoại hiệu Oppo F7, màu đỏ không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
(Hiện vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2021).
Về án phí: Các bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê C, Nguyễn Xuân L, Trần L1, Ngô Văn C, Dương Tấn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại C an xã L1 Tân, anh Bùi Thanh Bảo Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Đồng Nai; - Viện KSND huyện Nhơn Trạch; - THADS huyện Nhơn Trạch; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |