vanban.org

Bản án 121/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm N

1/ Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Dương Thanh V. 2/ Về con chung: giao con chung Dương Trọng N1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019 cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cẩm N ly hôn, nuôi con với Dương Thanh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm N
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 04-10-2022
Về việc xin ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thùy Kha

Ông Nguyễn Đinh Cường

-Thư ký phiên tòa:Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Ông Huỳnh Hữu Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 173/2022/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022, về việc: “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐST – HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2022 giữa các đượng sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp L1, xã L2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Anh Dƣơng Thanh V, sinh năm: 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày: Nguyên vào năm 2014, chị và anh Dương Thanh V qua mai mối, được gia đình hai bên chấp thuận tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 14/7/2014.

Sau khi kết hôn gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, sau đó thì đôi bên nhận ra không còn phù hợp nhau trong đời sống vợ chồng nên thường xuyên gây cãi, do bất đồng quan điểm sống. Từ đó làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Dương Thanh V.

Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Dương Trọng N1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019, hiện đang sống với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung phải thu, phải trả: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn anh Dương Thanh V nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh Dương Thanh V vắng mặt không có lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán; thư ký Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

-Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Dương Thanh V.

Về con chung: giao con chung Dương Trọng N1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019 cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: đương sự nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: bị đơn anh Dương Thanh V được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

Về quan hệ hôn nhân: vào năm 2014, chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Dương Thanh V kết hôn theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 14/7/2014. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh V là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẩn vợ chồng: chị N cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, sau đó đôi bên nhận ra không còn phù hợp nhau trong đời sống vợ chồng nên thường xuyên gây cãi, do bất đồng quan điểm sống. Từ đó làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được.

Anh V đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh V đã trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn được, xét việc chị N yêu cầu ly hôn với anh V là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Dương Trọng N1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019, hiện đang sống với chị N, tại phiên tòa chị N cho rằng hiện cuộc sống của cháu Nhân ổn định, chị đủ khả năng nuôi con, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, chưa yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử giao cháu Nhân cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con do bên trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu cấp dưỡng con nên không xem xét.

Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm N

1/ Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Dương Thanh V.

2/ Về con chung: giao con chung Dương Trọng N1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2019 cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: do bên trực tiếp nuôi dưỡng chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/ Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4/ Về án phí: chị Nguyễn Thị Cẩm N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số No 0007144 ngày 24 tháng 5 năm 2022, chị N không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoạc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ