- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Hùng A"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2022/HNGĐ-ST Ngày 27 - 12 - 2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vân.
Ông Phan Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu
Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2022/TLST-
HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 122/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; nơi cư trú: ấp T, xã B,
huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng A, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp T, xã B,
huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hùng A chung sống với nhau từ năm 1995, đến ngày
06/11/2003 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Biên Giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Hùng A thường xuyên uống rượu, đánh chị, không phụ giúp gia đình. Mâu thuẫn trầm trọng từ cuối năm 2021 do anh Nguyễn Hùng A ghen tuông vô cớ nên vợ chồng cãi vả, anh Nguyễn Hùng A đánh, chửi chị nên vợ chồng ly thân. Sau đó, anh Nguyễn Hùng A năn nỉ nên chị về nhà chung sống được một tháng thì anh Nguyễn Hùng A tiếp tục chửi và đánh chị, con can ngăn thì đánh luôn con, chị và con bỏ đi. Đến nay, vợ chồng gặp mặt 02 lần nhưng không nói chuyện, không hòa giải được mâu thuẫn vợ chồng. Chị có báo Trưởng ấp Tân Định và Công an xã Biên Giới về mâu thuẫn vợ chồng nhưng không lập biên bản. Xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hùng A.
Về con chung: có 03 con chung là Nguyễn Hồng N1, sinh ngày
31/10/1996, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 20/10/1999 và Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 12/9/2001. Con chung đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Nợ chung: không có.
Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Nguyễn Hùng A trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị N chung sống với nhau từ năm 1995, đến ngày
06/11/2003 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Biên Giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống lúc đầu hạnh phúc, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh ghen tuông. Chị N bỏ nhà đi từ tháng 3/2022 đến nay, đi đâu anh không biết, anh không gặp được chị N để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Mỗi lần cãi vả chị N lại bỏ đi, có khi đi cả năm về được 02 tháng cãi vả lại đi tiếp. Do anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn, không gặp được vợ nên không có biện pháp thuyết phục vợ quay về.
Về con chung: có 03 con chung là Nguyễn Hồng N1, sinh ngày
31/10/1996, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 20/10/1999 và Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 12/9/2001. Con chung đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
Nợ chung: không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát
biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các
đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố
tụng.
- Về nội dung:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A được ly hôn.
+ Về con chung: có 03 con chung là Nguyễn Hồng N1, sinh ngày
31/10/1996, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 20/10/1999 và Nguyễn Thị Ngọc
A1, sinh ngày 12/9/2001. Con chung đã trưởng thành, chị Nguyễn Thị N và anh
Nguyễn Hùng A không yêu cầu Toà án giải quyết nên ghi nhận.
+ Về tài sản: Ghi nhận chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A không
yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.
+ Nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A trình
bày không có.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn, vắng mặt tại
phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Hùng A là bị
đơn, vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo khoản
1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị N
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Hùng A; anh
Nguyễn Hùng A cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh chấp
về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A
chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 06/11/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Biên Giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A hợp pháp.
Qua lời trình bày của chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A
thấy rằng: Quá trình chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do có sự bất hòa trong đời sống vợ chồng, không có sự đồng nhất về cách nghĩ cũng như về lối sống, sinh hoạt, từ đó thiếu sự tin tưởng và không thông cảm, chia sẻ với nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị ảnh hưởng và không giải quyết được, anh Nguyễn Hùng A có hành vi bạo lực gia đình nên vợ chồng đã sống ly thân. Lời khai này phù hợp với việc xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng tại Trưởng ấp Tân Định (bút lục 32), Công an viên phụ trách ấp Tân Định (bút lục 33).
Quá trình giải quyết vụ án, chị N vẫn cương quyết ly hôn, anh
Nguyễn Hùng A không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng được chị N chấp nhận. Như vậy, có căn cứ về việc anh Nguyễn Hùng A có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A ly hôn.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A có 03 con
chung là Nguyễn Hồng N1, sinh ngày 31/10/1996, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 20/10/1999 và Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 12/9/2001. Con chung đã trưởng thành, chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A không yêu cầu Toà án giải quyết nên ghi nhận.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A không yêu cầu
Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn nên ghi nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Chị Nguyễn
Thị N là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng; anh Nguyễn Hùng A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn
Hùng A.
Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Hùng A.
2. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A có 03 con chung là Nguyễn
Hồng N1, sinh ngày 31/10/1996, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 20/10/1999 và
Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 12/9/2001. Con chung đã trưởng thành, chị
Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về tài sản:
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hùng A không yêu cầu Tòa án giải
quyết chia tài sản khi ly hôn.
4. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng theo biên lai thu số 0017708 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Thanh Hằng |