vanban.org

Bản án 121/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn U và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 121/2021/HS-ST
Ngày: 28-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Yến và bà Huỳnh Ngọc Sƣơng;

- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Loan, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2021/TLST- HS ngày 19 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 104/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn U, sinh năm 1993 tại Cà Mau. Nơi cƣ trú: Ấp X, xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thiện C, sinh năm 1956 và bà Đoàn Ngọc L, sinh năm 1958; bị cáo chƣa có vợ con. Tiền sự: Không có.

Tiền án: Bản án số 01/2020/HS-ST ngày 02-01-2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân:

- Quyết định số 73/2015/QĐ-TA ngày 01/12/2015 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng;

- Quyết định số 191/2017/QĐ-TA ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 23/11/2020.

2/ Huỳnh Văn H, sinh năm 1992 tại An Giang. Nơi cƣ trú: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tấn T, sinh năm 1966 và bà Trƣơng Thị C, sinh năm 1962; bị cáo chƣa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 01/02/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định khởi tố bị can số 130 về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt, tạm giam trong vụ án khác.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Võ Thị Ngọc H1, sinh năm 1982; nơi cƣ trú: Ấp H, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983; nơi cƣ trú: T31/28 khu phố B, phƣờng G, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Lê Thúy L. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/11/2020, do không có tiền tiêu xài và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Văn U đi bộ đến khu nhà trọ địa chỉ 351/3 khu phố T, phƣờng A, thành phố T thì thấy phòng số 01 của dãy trọ không đóng cửa và phát hiện trong phòng có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 65H1 – 259.65 của bà Võ Thị Ngọc H1 đang dựng và không ngƣời trông coi, chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa xe. Lúc này U lẻn vào bên trong phòng trọ đẩy xe mô tô nói trên ra ngoài rồi điều khiển tẩu thoát khỏi hiện trƣờng, trên đƣờng đi, U dừng xe lại kiểm tra trong cốp xe và phát hiện có 01 giấy đăng ký xe mang tên “Võ Thị Ngọc H1” nên đã cất giữ và tiếp tục điều khiển xe đến gặp đối tƣợng Huỳnh Văn H, U nói với H xe mới vừa trộm đƣợc và bàn bạc với nhau mang xe đi cầm cố. Sau khi thống nhất thì U điều khiển xe chở H đến tiệm cầm đồ HPCD tại địa chỉ T31/28 Lô M, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, H vào tiệm nói rằng xe của vợ H và do thiếu tiền nên cầm cố, do có giấy đăng ký xe và Chứng minh nhân dân của H nên bà Nguyễn Thị H2 (ngƣời quản lý tiệm cầm đồ) đã đồng ý cầm cố với giá 15.000.000đồng. Số tiền này đƣợc H đƣa lại hết cho U để cùng tiêu xài cá nhân. Đến ngày 06/11/2020, do không có tiền tiêu xài nên H quay lại tiệm cầm đồ gặp bà H2 để làm thủ tục bán luôn xe với giá 15.500.000đồng thì đƣợc bà H2 đồng ý, bà H2 đƣa thêm cho H 500.000đồng. Vào lúc 10 giờ ngày 23/11/2020, Nguyễn Văn U bị Công an phƣờng A, thành phố Thuận An mời về trụ sở làm việc do có biểu hiện nghi vấn, qua làm việc, U khai nhận hành vi phạm tội nhƣ trên. Đến 11 giờ ngày 23/11/2020, bà Võ Thị Ngọc H1 đến Công an phƣờng An Thạnh trình báo sự việc bị mất trộm xe.

Ngày 27/11/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 65H1 – 259.65 có giá trị 20.000.000đồng (hai mƣơi triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKS -TA ngày 18/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố , đánh giá tính chất, mức độ, hâ ̣u quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn U từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và bị cáo Huỳnh Văn H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 65H1 – 259.65 là tài sản các bị cáo trộm cắp, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe cho bị hại Võ Thị Ngọc H1 là đúng pháp luật.

- Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen là áo khoác do bị cáo Út mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, U không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên đề xuất tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đồng thời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thƣờng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về biện pháp tƣ pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 15.500.000đồng (Mƣời lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Đối với hành vi nhận cầm cố và mua xe của bà Nguyễn Thị H2: Bà H2 không biết xe mô tô mà bị cáo H mang đi cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với bà H2 là có căn cứ.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn U và Huỳnh Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 04/11/2020 tại khu nhà trọ địa chỉ 351/3 khu phố T, phƣờng A, thành phố T, bị cáo U có hành vi trộm cắp tài sản của bị hại là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 65H1 – 259.65 có giá trị 20.000.000đồng (hai mƣơi triệu đồng) và bị cáo H biết rõ đây là tài sản do phạm tội mà có nhƣng vẫn cố tình mang tài sản đi cầm cố giúp bị cáo U để đƣợc hƣởng lợi.

Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức đƣợc hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại và tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng vì lòng tham, muốn có tài sản sử dụng và hƣởng lợi từ việc tiêu thụ tài sản không phải bằng sức lao động của mình, các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo U đã từng bị Tòa án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, hiện chƣa đƣợc xóa án tích đồng thời từng nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhƣng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bị cáo là ngƣời khó cải tạo giáo dục. Bị cáo H có nhân thân xấu, đang bị khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” trong một vụ án khác.

Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, tuy nhiên cũng cần phân hóa vai trò của các bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo U là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và chủ động rủ rê bị cáo H tìm cách tiêu thụ tài sản nên vai trò và mức hình phạt áp dụng cho bị cáo U phải cao hơn bị cáo H.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo U phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo H phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị H2: Bà H2 không biết xe mô tô mà bị cáo H mang đi cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với bà H2 là có căn cứ.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 65H1 – 259.65 là tài sản các bị cáo trộm cắp, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe cho bị hại Võ Thị Ngọc H1 là đúng pháp luật.

- Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen là áo khoác do bị cáo U mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, U không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tƣ pháp: Bị hại đã nhận lại tài sản, đồng thời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thƣờng, đây là sự tự nguyện, tự định đoạt của các chủ thể về quyền sở hữu và giao dịch dân sự, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, xét thấy không cần thiết buộc các bị cáo nộp lại số tiền 15.500.000đồng theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn U;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Văn H;

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2020.

1.2. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu đen.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/3/2021).

3. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn U và bị cáo Huỳnh Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ