vanban.org

Bản án 121/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội trộm cắp tài sản (chƣa đạt).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2020. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T bị viện kiểm sát truy tố về tội Trộm cắp tài sản (chưa đạt) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội trộm cắp tài sản (chƣa đạt).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 121/2021/HS-ST
Ngày 28-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Ông Nguyễn Đình Thế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2021 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 106/2021/QĐXX-HS ngày 16/4/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1990 tại Hà Tĩnh; thƣờng trú: Xóm A, xã Đ, huyện Hƣơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Khắc Ph, sinh năm 1950 và bà Đinh Thị D, sinh năm: 1957; bị cáo có 03 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1989; bị cáo có vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1995 và có 01 con ruột, sinh năm 2016; tiền án: Ngày 19/07/2019, bị Tòa án nhân dân quận 5, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành án tại trại giam Phú Hòa, ra tù ngày 20/6/2020; tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 17/09/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích);

- Ngày 20/01/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/12/2020, có m t.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, có m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đào Thị Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm B, xã L, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, có m t.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Ngọc S, vắng m t.

2. Chị Đinh Thị Thùy Tr, vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 30/12/2020, Nguyễn Đức T đang chơi bida ở khu vực Bọng Dầu, phƣờng Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì g p đối tƣợng T (không rõ nhân thân lai lịch ) rủ T đi uống cà phê, trong lúc uống cà phê T rủ T đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt, T đồng ý. Cả hai uống cà phê đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì T điều khiển xe mô tô hiệu Exciter không rõ biển số chở T ngồi phía sau đi đến khu vực phƣờng An Bình để tìm tài sản chiếm đoạt. Khi đến trƣớc cửa hàng điện thoại di động Viettel, địa chỉ số 490 đƣờng Nguyễn Tri Phƣơng, khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 37P1-69332 của anh Nguyễn Văn G dựng trƣớc cửa hàng không có ngƣời trông coi nên T dừng xe cách cửa hàng khoảng 10 mét, T đƣa cho T 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 11 cm và 01 túi nilon màu đen chứa 03 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 9cm; 01 dây điện quấn băng keo đen dài khoảng 10 cm; 02 chìa khóa xe; 01 bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml; 01 con dao cán gỗ quấn băng keo đen thân kim loại dài khoảng 30cm bỏ trong 01 cái vỏ quấn băng keo đen, T cất giữ trên ngƣời ngay lƣng quần. T đi bộ đến chỗ xe mô tô trên, đứng phía bên trái xe, tay trái cầm cây đoản, tay phải đƣa vào ổ khóa xe để kiểm tra tình trạng ổ khóa nhƣng sờ thấy ổ khóa xe bị khóa từ nên chƣa phá đƣợc ổ khóa thì T nhìn thấy có ngƣời trong cửa hàng nhìn ra phía mình nên thụt lùi tay lại, cùng lúc đó lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng An Bình phát hiện bắt quả tang. Đối tƣợng T thấy T bị bắt đã nhanh chóng bỏ chạy.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen bạc, số khung 3918LY099848, số máy JA39E1436369 biển số 37P1-69332;

- 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 11 cm; 03 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 9cm; 01 dây điện quấn băng keo đen dài khoảng 10 cm; 02 chìa khóa xe máy; 01 bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml; 01 con dao cán gỗ quấn băng keo đen thân kim loại dài khoảng 30cm bỏ trong 01 cái vỏ quấn băng keo đen.

Theo Kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG-HĐĐHTS ngày 07/01/2021 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An kết luận nhƣ sau: 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen bạc, số khung 3918LY099848, số máy JA39E1436369 biển số 37P1-69332 (sử dụng tháng 05/2020) trị giá 14.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 128/CT – VKS – DA ngày 08 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội trộm cắp tài sản (chƣa đạt) theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 15; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức án từ 15 (mƣời lăm) đến 18 (mƣời tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe môtô hiệu Honda Waves màu đen, biển số 37P1-69332 trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn G theo quy định.

Đối với 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 11 cm; 03 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 9cm; 01 dây điện quấn băng keo đen dài khoảng 10 cm; 02 chìa khóa xe máy; 01 bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml; 01 con dao cán gỗ quấn băng keo đen thân kim loại dài khoảng 30cm bỏ trong 01 cái vỏ quấn băng keo đen là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với hành vi cất giấu 01 bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml trong ngƣời của Nguyễn Đức T mà không có giấy phép sử dụng là vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép. Ngày 25/03/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An lập biên bản vi phạm hành chính. Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình dƣơng ban hành quyết đinh xử phạt vi phạm hành chính số 1159/QĐ-XPVPHC ngày 01/04/2021.

Về Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không đ t ra.

Tại phiên tòa trong phần tranh luận: bị cáo Nguyễn Đức T không tranh luận; bị hại và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận

Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và chăm sóc vợ con vì vợ bị cáo chuẩn bị sinh con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 19 giờ ngày 30/12/2020, tại địa chỉ số 490 đƣờng Nguyễn Tri Phƣơng, khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen bạc, số khung 3918LY099848, số máy JA39E1436369 biển số 37P1-69332 của anh Nguyễn Văn G nhƣng chƣa thực hiện đƣợc hành vi phạm tội thì bị phát hiện. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản bắt ngƣời phạm tội qủa tang, Kết luận định giá tài sản... Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản (chƣa đạt) quy định tại khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 128/CT – VKS – DA ngày 08 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới, đây là tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: năm 2008 và 2016 đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt về tội trộm cắp tài sản.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã đƣợc thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đ t ra.

Vật chứng: Đối với xe môtô hiệu Honda Waves màu đen, biển số 37P1-69332 Cơ quan điều tra trả lại cho anh Nguyễn Văn G là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 11 cm; 03 đầu đoản bằng kim loại dài khoảng 9cm; 01 dây điện quấn băng keo đen dài khoảng 10 cm; 02 chìa khóa xe máy; 01 bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml; 01 con dao cán gỗ quấn băng keo đen thân kim loại dài khoảng 30cm bỏ trong 01 cái vỏ quấn băng keo đen là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi cất giấu 01 bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml trong ngƣời của Nguyễn Đức T mà không có giấy phép sử dụng là vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép đã bị Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ban hành quyết đinh xử phạt vi phạm hành chính số 1159/QĐ-XPVPHC ngày 01/04/2021.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội trộm cắp tài sản (chƣa đạt).

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 15; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2020.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài 11 cm; 03 (ba) đầu đoản bằng kim loại dài 09cm; 01 (một) dây điện quấn băng keo đen dài khoảng 10 cm; 02 (hai) chìa khóa xe máy; 01 (một) bình xịt hơi cay Nato màu xanh dung tích 110ml; 01 (một) con dao cán gỗ quấn băng keo đen thân kim loại dài khoảng 30cm bỏ trong cái vỏ quấn băng keo đen.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2021 – BL số 139)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có m t tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ