vanban.org

Bản án 121/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 31/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn X1 02 (Hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2021.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Văn X1 phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? 1. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn X1 02 (Hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2021/HS-ST
Ngày 31 tháng 7 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lan.

2. Ông Nguyễn Văn Chi.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2021/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn X1 , sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Ngạc Lâu, xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Họ và tên bố: Hoàng Văn T1 , sinh năm 1980; Họ và tên mẹ: Dương Thị T2 , sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh em, bản thân là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, (Có mặt).

* Bị hại: Chị Lý Thị Nh1 , sinh năm 1997, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lý Văn Đ1 , sinh năm 2004, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện của anh Đ1 : Ông Lý Văn D1 , sinh năm 1965, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Dương Thị T3 , sinh năm 1975, (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn TH , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang.

3. Anh Nguyễn Hữu Tr1 , sinh năm 1983, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố MĐ 1, thị trấn N , huyện VY , tỉnh Bắc Giang.

4. Anh Đỗ Xuân L1 , sinh năm 2000, (Vắng mặt).

Địa chỉ: HM 2, thị trấn N , huyện VY , tỉnh Bắc Giang.

5. Anh Trần Văn Ch1 , sinh năm 1987, (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố HM , xã HN (Nay là TT, N), huyện VY , tỉnh Bắc Giang.

6. Chị Đặng Huyền Tr2 , sinh năm 2002, (Vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Số nhà 36, YTh , Phường PhTh , thị xã ST , thành phố Hà Nội.

Chỗ ở: Tổ dân phố HM 2, thị trấn N , huyện VY , tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn X1 , sinh năm 2002 ở thôn Ngạc Lâu, xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang và anh Lý Văn Đ1 , sinh năm 2004 ở thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ quen biết nhau. Ngày 19/3/2021, anh Đ1 cho X1 mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 để mang đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Cùng ngày, X1 tháo chiếc sim điện thoại số 0984.110.619 của anh Đ1 ra rồi mang chiếc điện thoại đến cửa hiệu điện thoại Văn Chiến của anh Trần Văn Ch1 , sinh năm 1987 ở tổ dân phố HM 3, thị trấn N , huyện VY , tỉnh Bắc Giang cầm cố được số tiền 2.000.000 đồng. Sáng ngày 25/3/2021, X1 mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của chị Đặng Huyền Tr2 , sinh năm 2002 (là người yêu của X1 ), hộ khẩu thường trú ở số nhà 36, YTh , phường PhTh , thị xã ST , thành phố Hà Nội; hiện đang ở tổ dân phố HM 2, thị trấn N , huyện VY , tỉnh Bắc Giang. X1 tháo sim điện thoại của chị Tr2 ra rồi lắp sim điện thoại số 0984.110.619 của anh Đ1 vào máy điện thoại của chị Tr2 , mục đích chiếm quyền sử dụng facebook của anh Đ1 để lấy gmail trong facebook nhằm chiếm quyền sử dụng tài khoản game và mạng xã hội khác của anh Đ1 . X1 vào ứng dụng facebook, điền số điện thoại 0984.110.619 vào phần tìm lại mật khẩu thì hiện lên hình ảnh tài khoản facebook “Lý Nhớ” của chị Lý Thị Nh1, sinh năm 1997 (là chị gái của anh Đ1 ) ở thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang, hiện đang lao động ở Nhật Bản. X1 thao tác trên ứng dụng facebook để gửi mã xác nhận qua tin nhắn về số điện thoại 0984.110.619. Khi có mã xác nhận của facebook, X1 điền mã này vào facebook rồi đổi mật khẩu và chiếm được quyền sử dụng facebook “Lý Nhớ” của chị Nh1. Tiếp đến X1 vào phần tin nhắn messenger thì thấy nhiều nội dung tin nhắn mua hàng, chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng giữa chị Nh1 và facebook “Nhung Su” của chị Lý Thị Nh1 , sinh năm 1997 ở thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang. Do cần tiền để trả nợ và chi tiêu cá nhân nên X1 nảy sinh ý định giả danh chị Nh1 nhắn tin nhờ chị Nh1 chuyển tiền vào tài khoản của X1 và tài khoản của chị Tr2 để X1 chiếm đoạt. Khi nhận được tin nhắn từ tài khoản facebook “Lý Nhớ”, chị Nh1 lúc này đang ở thành phố Bắc Giang, nghĩ là chị Nh1 nhắn tin nên không nghi ngờ gì và chuyển tiền vào tài khoản của X1 và tài khoản của chị Tr2 . Cụ thể theo nội dung tin nhắn của chị Nhớ do X1 giả mạo thì trong khoảng thời gian từ 07 giờ 20 phút đến 08 giờ 17 phút ngày 25/3/2021, chị Nh1 đã 04 lần chuyển tiền với số tiền lần lượt là 5.000.000 đồng; 10.000.000 đồng; 15.000.000 đồng; 20.000.000 đồng vào số tài khoản 19036494532013 của ngân hàng Techcombank mang tên Hoàng Văn X1 và 01 lần chuyển tiền với số tiền là 8.000.000 đồng vào số tài khoản 18035491598017 của ngân hàng Techcombank mang tên Đặng Huyền Tr2 . Sau khi chị Nh1 chuyển số tiền 8.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của chị Tr2 , X1 đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của chị Tr2 để chuyển số tiền trên sang tài khoản ngân hàng của X1 rồi dùng số tiền này để trả nợ và chơi game hết. Sau khi lừa chị Nh1 xong, X1 tháo sim điện thoại số 0984.110.619 ra và lắp lại sim điện thoại của chị Tr2 vào máy điện thoại của chị Tr2 .

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 25/3/2021, X1 đến Công ty Smart Tech Vina Bắc Giang thuộc khu công nghiệp ĐTr, huyện VY , tỉnh Bắc Giang đón chị Tr2 đi làm về rồi vào cây ATM gần Công ty Smart Tech Vina Bắc Giang rút 50.000.000 đồng mà X1 chiếm đoạt của chị Nh1 . Cùng ngày, X1 đưa chị Tr2 đến cửa hàng điện thoại “Long Mobile” ở tổ dân phố HM 2, thị trấn N , huyện VY do anh Đỗ X1 Long, sinh năm 2000 làm chủ và mua cho chị Tr2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, mầu trắng với giá 11.800.000 đồng. Sau đó X1 và chị Tr2 đến cửa hàng điện thoại “Trọng Hữu Mobile” ở tổ dân phố My Điền 1, thị trấn N , huyện VY , tỉnh Bắc Giang do anh Nguyễn Trọng Hữu, sinh năm 1983 làm chủ và mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold với giá 12.500.000 đồng để X1 sử dụng. Số tiền còn lại thì X1 cho chị Tr2 10.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết 15.700.000 đồng. Ngày 30/3/2021, chị Tr2 đưa lại cho X1 10.000.000 đồng rồi X1 sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Về phía chị Lý Thị Nh1 , sau khi phát hiện bị X1 lừa đảo chiếm đoạt tiền thì chị Nh1 đã trình báo đến Công an thành phố Bắc Giang.

Ngày 31/3/2021, X1 đến Công an thành phố Bắc Giang đầu thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold, số IMEI là 35727309464688, lắp sim điện thoại số 0338904731. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tạm giữ của chị Đặng Huyền Tr2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, mầu trắng, số IMEI là F2LXJPQRKPHD (là chiếc điện thoại di động mà X1 mua cho chị Tr2 ).

Ngày 31/3/2021, Cơ quan điều tra có công văn số 850/CV- CQĐT đề nghị Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam- Chi nhánh Bắc Giang (Techcombank) cung cấp thông tin cá nhân và sao kê lịch sử giao dịch từ ngày 20/3/2021 đến ngày 31/3/2021 của 02 tài khoản ngân hàng số 19036494532013 và 19035491598017. Cùng ngày 31/3/2021, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam- Chi nhánh Bắc Giang có công văn phúc đáp số 158/2021/TCB-BGN với nội dung:

- Tài khoản ngân hàng 19036494532013 là của Hoàng Văn X1 , sinh ngày 28/12/2002 ở Suối Mỡ, xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang. Tài khoản ngân hàng 19035491598017 là của Đặng Huyền Tr2 , sinh ngày 17/10/2002 ở số 36-YTh , phường PhTh , thị xã ST , thành phố Hà Nội.

- Nội dung sao kê xác định: Ngày 25/3/2021, tài khoản ngân hàng 19036494532013 của Hoàng Văn X1 nhận được số tiền 50.000.000 đồng và tài khoản ngân hàng 19035491598017 của Đặng Huyền Tr2 nhận được số tiền 8.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng 222752485 của chị Lý Thị Nh1 .

Cơ quan điều tra đã kiểm tra dữ liệu điện thoại di động tạm giữ của Hoàng Văn X1 và chị Đặng Huyền Tr2 , kết quả thu giữ được hình ảnh liên quan đến tài khoản ngân hàng 19036494532013 mà X1 đang sử dụng, hình ảnh liên quan đến việc X1 rút 50.000.000 đồng tại cây ATM ngày 25/3/2021.

Ngày 09/4/2021, Cơ quan điều tra tiến hành cho Hoàng Văn X1 thực nghiệm hành vi phạm tội, kết quả X1 đã thực hiện thành thục hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Đối với chị Đặng Huyền Tr2 là người cho Hoàng Văn X1 mượn chiếc điện thoại di động rồi X1 sử dụng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Nh1 và sử dụng tài khoản ngân hàng của chị Tr2 để nhận tiền do chị Nh1 chuyển đến. Quá trình điều tra xác định chị Tr2 và X1 là người yêu của nhau nên X1 biết được mật khẩu điện thoại và mật khẩu tài khoản ngân hàng của chị Tr2 ; chị Tr2 không được X1 bàn bạc, trao đổi gì về việc chiếm đoạt tiền của chị Nh1 nên không có căn cứ xử lý chị Tr2 đồng phạm với X1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Quá trình điều tra, anh Lý Văn Đ1 khai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 mà X1 mượn của anh đi cầm cố thì khi cho mượn anh đồng ý cho X1 mang đi cầm cố, đến nay không thu hồi chiếc điện thoại trên nhưng gia đình X1 đã bồi thường cho anh số tiền 3.000.000 đồng nên anh không có đề nghị gì.

Ngày 15/4/2021, bà Dương Thị T3 , sinh năm 1975 (là bác ruột của Hoàng Văn X1 ) đã giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 58.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả cho hành vi phạm tội của Hoàng Văn X1 . Ngày 19/6/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lý Thị Nh1 số tiền 58.000.000 đồng, đến nay chị Nh1 không yêu cầu X1 phải bồi thường thêm gì về dân sự.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, mầu gold, số IMEI là 35727309464688, lắp sim điện thoại số 0338904731 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, mầu trắng, số IMEI là F2LXJPQRKPHD, được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn X1 đã khai nhận hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 130/KSĐT ngày 13/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai nhận mục đích lừa chị Nh1 để lấy tiền trả nợ, tuy nhiên bị cáo không thực hiện nhắn cho chị Nh1 một lần với số tiền lớn vì sợ chị Nh1 nghi ngờ, nên bị cáo đã liên tục thực hiện hành vi nhắn cho chị Nh1 chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo và tài khoản của chị Tr2 trong khoảng thời gian ngắn từ 07 giờ 20 phút đến 08 giờ 20 phút ngày 25/3/2021. Sau khi chiếm đoạt được số tiền của chị Nh1 , bị cáo mua cho chị Tr2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu trắng với giá 11.800.000 đồng. Bị cáo xác định chiếc điện thoại trên bị cáo đã cho chị Tr2 . Bị cáo khai đã tác động về gia đình bồi thường toàn bộ số tiền 58.000.000 đồng cho bị hại và 3.000.000 đồng cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Dương Thị T3 có mặt trình bày: Bà là bác ruột của bị cáo Hoàng Văn X1 . Trong quá trình điều tra, X1 đã có tác động đối với gia đình để gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bà không yêu cầu X1 phải hoàn trả lại bà số tiền mà bà đã khắc phục cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn X1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2, Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn X1 từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 31/3/2021. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Hoàng Văn X1 .

3, Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold, số Imei: 35727309464688, lắp sim điện thoại số 0338904731 trả lại cho bị cáo Hoàng Văn X1 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu trắng, số Imei: F2LXJPQRKPHD trả lại cho chị Đặng Huyền Tr2 .

4, Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Bà Dương Thị T3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/3/2021, trên địa bàn thành phố Bắc Giang, Hoàng Văn X1 , sinh năm 2002 ở thôn Ngạc Lâu, xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang đã có hành vi gian dối chiếm đoạt tổng số tiền 58.000.000 đồng của chị Lý Thị Nh1 , sinh năm 1997 ở thôn ĐM , xã NghPh , huyện LN , tỉnh Bắc Giang. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Trước khi bị xét xử ngày hôm nay, bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử về tội gì bằng bản án có hiệu lực pháp luật, chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xử lý hành chính.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú và đã tác động về gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất hành vi phạm tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích và biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung ngân sách Nhà nước. Nhưng xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo thành người lương thiện.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại đã nhận lại số tiền 58.000.000 đồng và không có yêu cầu gì; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử xét thấy: Cần trả lại bị cáo Hoàng Văn X1 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold, số Imei: 35727309464688, lắp sim điện thoại số 0338904731 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án và trả lại chị Đặng Huyền Tr2 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu trắng, số Imei: F2LXJPQRKPHD.

Về những vấn đề khác trong vụ án:

Đối với chị Đặng Huyền Tr2 là người cho Hoàng Văn X1 mượn chiếc điện thoại di động. X1 sử dụng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Nh1 và sử dụng tài khoản ngân hàng của chị Tr2 để nhận tiền do chị Nh1 chuyển đến. Qúa trình điều tra xác định chị Tr2 và X1 là người yêu của nhau nên X1 biết được mật khẩu điện thoại và mật khẩu tài khoản ngân hàng của chị Tr2 ; chị Tr2 không được X1 bàn bạc, trao đổi gì về việc chiếm đoạt tiền của chị Nh1 nên không có căn cứ xử lý chị Tr2 đồng phạm với X1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Quá trình điều tra, anh Lý Văn Đ1 khai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 mà X1 mượn của anh đi cầm cố thì khi cho mượn anh đồng ý cho X1 mang đi cầm cố, đến nay không thu hồi chiếc điện thoại trên nhưng gia đình X1 đã bồi thường cho anh số tiền 3.000.000 đồng nên anh không có đề nghị gì.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.1. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn X1 02 (Hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2021.

1.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

Trả lại Hoàng Văn X1 : 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu gold, số Imei: 35727309464688, lắp sim điện thoại số 0338904731 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại chị Đặng Huyền Tr2 : 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax, màu trắng, số Imei: F2LXJPQRKPHD.

3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn X1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ