- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trần Cẩm N phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 06/12/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2021/HS-ST Ngày 17 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Rỹ
Bà Trần Thị Bảo Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2021 tại tr s Tòa án nh n d n Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 145/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Trần Cẩm N; sinh năm 1998, tại Thành phố Hồ Ch Minh; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 1438/6/14 P Phường 5 Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh; chỗ : 0.12 Lô A2B Chung cư III B Phường 5 Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Thoa E; có 01 con sinh năm 2017; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 06/12/2020 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Chị Trần Ngọc T sinh năm 2002; nơi cư trú: 398/1B N Khai Phường 5 Quận 3 Thành phố Hồ Ch Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Trần Quốc T, sinh năm 1998; nơi cư trú: 323 T phường P quận T, Thành phố Hồ Ch Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 06/12/2020 Trần Hoàng L điều khiển xe gắn máy biển số 59G2-421.54 đến chỗ của Nguyễn Trần Cẩm N và ch N đi mua sinh tố tại địa chỉ 378 T Phường 2 Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày 06/12/2020 sau khi mua sinh tố L quay xe ch N đi về hướng ngã tư đường T - A. Trong lúc L quay xe, N nhìn thấy chị Trần Ngọc T đang ngồi sau xe gắn máy biển số 59N2-930.98 của anh Võ Minh H (cũng là khách đang dừng mua sinh tố) trên cổ chị T có đeo một sợi d y chuyền bằng kim loại. Thấy vậy nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt d y chuyền của chị T lợi d ng tình huống được L ch trên xe và đang di chuyển ngang qua chị T, N lập tức dùng tay phải giật sợi d y chuyền trên cổ chị T và dự định lợi d ng tình huống L đang điều khiển xe để tẩu thoát. Tuy nhiên, khi N vừa giật d y chuyền của chị T thì anh H kịp thời phát hiện nên nắm cổ áo của N kéo ngược lại, khiến N ngã từ trên xe của L xuống đất.
Lúc này, L đã điều khiển xe đi được khoảng 10m thì phát hiện N bị ngã xe L quay lại mới biết N vừa giật d y chuyền của chị T nên bị giữ lại. L kêu N trả lại d y chuyền nhưng chị T không đồng ý và đưa N cùng vật chứng đến trình báo Công an Phường 2 Quận 8. Công an ghi nhận lời khai và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 52/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2021 Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận: Sợi d y chuyền Nguyễn Trần Cẩm N chiếm đoạt của chị Trần Ngọc T được làm bằng hợp kim sắt Crôm phủ bề mặt một lớp hợp chất đồng và cacbon oxit, dài khoảng 45cm đã qua sử d ng có trị giá là 100.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trần Cẩm N đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản nêu trên. Ý định chiếm đoạt tài sản và thực hiện hành vi là do một mình N thực hiện vì ngay khi phát hiện tài sản của chị T, N liền nảy sinh ý định và ngay lập tức thực hiện nên không có bàn bạc rủ rê hay nói cho L biết ý định chiếm đoạt tài sản của mình.
Trần Hoàng L khai: L chỉ đến rủ và ch N đi mua sinh tố việc N nhìn thấy tài sản nảy sinh ý định và thực hiện hành vi cướp giật thì L không biết vì N không nói, cũng không bàn bạc hoặc rủ rê L thực hiện giúp sức. Lời khai của N phù hợp với lời khai của L.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại sợi d y chuyền cho chị Trần Ngọc T đồng thời chị T không yêu cầu N bồi thường thiệt hại.
Qua xác minh, xe gắn máy biển số 59G2-42154 do Trần Hoàng L điều khiển ch N tại thời điểm N cướp giật tài sản do anh Đỗ Trần Quốc T đứng tên đăng ký và đã tự ý thay đổi đặc điểm màu sơn xe và tem xe từ xe Suzuki Raider màu trắng - đen thành Suzuki Satria màu đỏ - đen. Anh T khai đã bán xe này cho một người tên T1 (không rõ lai lịch) vào năm 2019, nhưng không làm văn bản giấy tờ mua bán. Trần Hoàng L khai xe này do L mượn của một người tên B (không rõ lai lịch). Cơ quan điều tra đã có văn bản đăng tin tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe nhưng chưa có kết quả.
Tại bản Cáo trạng số 88/CT-VKSQ8 ngày 07/4/2021, Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh truy tố bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N về tội “Cướp giật tài sản”. Sau khi ph n t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị đăng tin tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe gắn máy biển số 59G2-421.54 theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm d n sự bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án xác định vào khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 06/12/2020 tại trước số 378 T, Phường 2 Quận 8 Thành phố Hồ Ch Minh bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N có hành vi công khai chiếm đoạt 01 (một) sợi d y chuyền bằng hợp kim sắt – Crôm phủ đồng trị giá 100.000 đồng của chị Trần Ngọc T rồi nhanh chóng tẩu thoát nhưng bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo đã lợi d ng tình huống khi đang ngồi trên xe gắn máy để thực hiện hành vi phạm tội đ y là tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” của tội “Cướp giật tài sản”.
Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp giật tài sản” như sau:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
…
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp luật bảo vệ. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tu n theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Do đó Hội đồng xét xử áp d ng các điểm h s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Sợi d y chuyền bằng hợp kim dài khoảng 45cm là tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại. Đồng thời bị hại không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xe gắn máy biển số 59G2-421.54 là phương tiện bị cáo sử d ng để phạm tội, qua xác minh do anh Đỗ Trần Quốc T đăng ký, nhưng Anh T xác định đã bán xe này cho một người tên T1 (không rõ lai lịch) vào năm 2019. Như vậy Anh T không còn quyền lợi liên quan đến chiếc xe này. Do chưa xác định được chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe gắn máy biển số 59G2-421.54 nên cần tiếp t c đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe này trong thời hạn 01 năm hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ng n sách Nhà nước.
Về trách nhiệm d n sự bị hại chị Trần Ngọc T không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo N khai khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không rủ rê bàn bạc với Trần Hoàng L. Đồng thời, L cũng xác định không biết bị cáo N có ý định chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó chưa đủ căn cứ xác định Trần Hoàng L là đồng phạm trong v án này cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 06/12/2020.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự; các điều 221 228 của Bộ luật D n sự.
Tiếp t c tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy biển số 59G2-421.54, số khung: RLSDL11ANHV102559 số máy: CGA1502860. Nếu hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ng n sách Nhà nước.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2021 tại Chi c c Thi hành án d n sự Quận 8).
- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Trần Cẩm N nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa v của mình trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi c c THA DS Quận 8; - Người tham gia tố t ng khác; - TA ND TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |