- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Trương Thị Yến L và BĐ Dương Thanh P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Yến L được ly hôn với anh Dương Thanh P.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2021/HNGĐ-ST Ngày 01 – 12 – 2021 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Quyến.
2. Ông Nguyễn Đức Toàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc là Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2021/TLST – HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2021, về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2021/QĐXXST - HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Yến L, sinh năm 1988.
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố S, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Thanh P, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P có tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Quá trình chung sống thì vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian, từ năm 2018 đến nay thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hợp nhau, thường xảy ra tranh cãi, không còn tình cảm yêu thương nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị và anh Phong đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Chị nhận thấy không còn tình cảm với anh Phong nữa nên chị yêu cầu ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung tên Dương Đức R (giới tính: Nam), sinh ngày 16/11/2012, hiện con chung đang sống với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án: bị đơn anh Dương Thanh P đều vắng mặt nên chưa thể hiện ý kiến.
Tại phiên tòa, chị L và anh P vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị L được ly hôn với anh P. Về con chung: giao cháu R cho anh P nuôi dưỡng. Về án phí chị L phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định quan hệ pháp luật tranh chấp phải giải quyết trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn trong vụ án là anh Dương Thanh P có địa chỉ cư trú tại ấp P, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ quy định tại các điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Về xét xử trong trường hợp có đương sự vắng mặt tại phiên tòa: chị Trương Thị Yến L là nguyên đơn trong vụ án, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Dương Thanh P là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Yến L và anh Dương Thanh P tiến đến hôn nhân vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P. Căn cứ quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, hôn nhân của anh chị được công nhận hợp pháp. Quá trình chung sống, chị L và anh P phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị L yêu cầu ly hôn, anh P chưa thể hiện ý kiến. Toà xét thấy: Hôn nhân của anh chị dù được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nhưng quá trình chung sống không hạnh phúc. Khi có mâu thuẫn anh chị không tự giải quyết được mà sống ly thân nhau, trong thời gian ly thân anh chị cũng không có biện pháp nào hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Mặt khác, quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh P bỏ mặc không đến Tòa, điều đó chứng tỏ tình cảm của anh P đối với chị L cũng không còn, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của anh chị đã thật sự trầm trọng, nếu tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Toà chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị L và anh Phong 01 con chung tên Dương Đức R (giới tính: Nam), sinh ngày 16/11/2012 hiện đang sống với chị L. Chị L yêu cầu được quyền nuôi con, anh P chưa thể hiện ý kiến, Tòa xét thấy: cháu R hiện do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, cháu R hiện đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng được sống với mẹ nếu cha mẹ cháu ly hôn. Xét nguyện vọng của cháu R và xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu, để cháu có cuộc sống ổn định, học tập, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu R cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nôm con cho anh Dương Thanh Pg, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên do chưa có yêu cầu, nên Tòa chưa xem xét trong cùng vụ án này.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không ai có yêu cầu giải quyết nên Tòa chưa xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết thành một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo mức không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Đối với phát biểu quan điểm về tố tụng và đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử thống nhất và chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Yến L được ly hôn với anh Dương Thanh P.
2. Về con chung: giao cháu Dương Đức R (giới tính: Nam), sinh ngày 16/11/2012 cho chị Trương Thị Yến L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dương Thanh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: buộc chị Trương Thị Yến L chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu số 0008969 ngày 19/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P thành án phí.
4. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - UBND xã T, huyện P;, HG. - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Em |