- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2020/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 5 năm 2020 Về việc: Ly hôn, con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Trần Quốc
Bà: Nguyễn Kim Lên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khanh - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc: Ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị x, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thảo N, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn tại đơn khởi kiện ngày 05/5/2020, nguyên đơn là anh Lê Văn D trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thảo N chung sống với nhau vào năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn, trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường hay cự cải, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thảo N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có với nhau được 01 người con chung tên Lê Quốc Đ, sinh ngày 09/4/2015 hiện vợ anh đang nuôi dạy, nay anh đồng ý giao cháu Đ cho chị N nuôi dạy đến tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thảo N trình bày tại đơn xin vắng mặt ngày 05/5/2020:
Qua lời trình bày của anh D trình bày là đúng, về thời giang kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, con chung có một đứa hiện nay chị đang nuôi dạy, nguyên nhân mâu thuẫn như chồng chị trình bày là đúng, về tài sản chung, nợ chung không có, Nay chồng anh D yêu cầu ly hôn chị cũng đồng ý, con yêu cầu nuôi cháu Đ, không yêu cầu cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thảo N có nơi trú tại ấp ấp Mũi Tràm A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Văn D khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Thảo N, tranh chấp về hôn nhân. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh D là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh D là nguyên đơn, chị N là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thảo N có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Anh Đ và chị N kết hôn năm 2013 hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy đinh của pháp luật, Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị N được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và được bảo vệ. Về mâu thuẫn không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; anh chị đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D và chị N đã ly thân nay, tại đơn xin vắng chị N cũng đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh D được ly hôn với chị N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có với nhau được 01 người con chung Lê Quốc Đ, sinh ngày 09/4/2015 hiện chị N đang nuôi dạy, nay anh D đồng ý giao cháu Đại cho chị N nuôi dạy đến tuổi trưởng thành Xét, con chung tên cháu Lê Quốc Đ, sinh ngày 09/4/2015 hiện nay sống với chị N ổn định về phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, ghi nhận tự nguyện giữa anh D và chị N, giao cháu Lê Quốc Đ, sinh ngày 09/4/2015 chị N nuôi dạy đến tuổi trưởng thành, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh D không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh D và chị N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Anh D tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 và khoản 3 Điều 68; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 14; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn D được ly hôn với chị Nguyễn Thảo N.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Quốc Đ, sinh ngày 09/4/2015 chị N nuôi dạy đến tuổi trưởng thành, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh D không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh D tự nguyện chịu 300.000 đồng, ngày 05/5/2020 theo biên lai số 0003610 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng NV-KT TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - UBND xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện TVT - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trƣơng Thanh Thủy |