vanban.org

Bản án 121/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Tuấn A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm C Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 - phạm tội tàng…"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Tuấn A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2019.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2019/HSST
Ngày 27 tháng 6 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Kim Dung

2. Bà Nguyễn Thị Thụy

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Phương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Bách Thiện Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở UBND phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2019/TL - HSST ngày 20 tháng 6 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2019 đối với:

Bị cáo Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố N, phường N, thành phố P, tỉnh V. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Vũ Thị N, sinh năm 1972; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02; Nhân thân: 02 tiền sự hết thời hiệu: Bị bắt quả tang ngày 09 tháng 4 năm 2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 1935T1; Số buồng: 19A; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trước cửa số nhà 103 Trúc Bạch, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, lực lượng tuần tra Công an phường Trúc Bạch phát hiện Trần Văn Sang, sinh năm 1987, Địa chỉ: ngõ 88 Giáp Nhị, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội điều khiển xe máy Honda Air Blade màu đen, biển kiểm soát: 29H1-79562 chở Nguyễn Tuấn A ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra Công an phường Trúc Bạch phát hiện Nguyễn Tuấn A tàng trữ trong túi quần phía sau bên trái có 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 1,5cm x 1,5cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. A khai nhận là ma túy tổng hợp “Đá”. Công an đã đưa A và Sang cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường Trúc Bạch để giải quyết.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn A khai nhận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 09 tháng 4 năm 2019, A đến khu vực cầu Kim Đồng đã gặp và mua của một người đàn ông lạ không quen biết 01 (một) túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng. Mua xong, A cất số ma túy trên vào túi quần phía sau bên trái rồi quay về nhà tại địa chỉ Ki ốt 24 ngõ 785 Trương Định, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai. Sau đó A đến chỗ Sang tại địa chỉ ngõ 88 Giáp Nhị, là hàng xóm chuyên chạy Grab để nhờ anh Sang chở A đi tìm nhà nghỉ mục đích để sử dụng ma túy. Khi đi đến trước cửa số nhà 103 phố Trúc Bạch, quận Ba Đình thì bị lực lượng tuần tra của Công an phường Trúc Bạch bắt giữ cùng vật chứng. Việc A tàng trữ ma túy trong người anh Sang không biết.

Lời khai nhận của Nguyễn Tuấn A phù hợp với lời khai của nhân chứng, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Quá trình điều tra xác định anh Trần Văn Sang không biết việc A tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có cơ sở xử lý. Căn cứ biên bản xét nghiệm ma túy dương tính đối với Trần Văn Sang nên CQĐT đã ra quyết định xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Sang.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Tuấn A: 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 1,5cm x 1,5cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng.

Thu giữ của Trần Văn Sang: 01 xe máy Honda Air Blade màu đen, biển kiểm soát: 29H1-795.62; SK: 144548; SM: 1498610 qua điều tra xác minh, chủ sở hữu là anh Trần Hoàng Quân, sinh năm 1997, Địa chỉ: Số 1 Ngõ 103 Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chiếc xe máy trên đã được anh Quân bán cho anh Phạm Văn Kiên, sinh năm 1985, HKTT: Khưu 3, xã Phục Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, với giá 28.000.000 đồng vào năm 2018. Ngày 08/4/2019 anh Kiên về quê nên anh Nguyễn Thanh Tùng sinh năm 1987, HKTT: 135 Đại La, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là bạn xã hội đã mượn xe máy của anh Kiên. Đến ngày 09/4/2019, anh Tùng đã cho anh Trần Văn Sang (là người ở cùng phòng trọ với anh Kiên) mượn chiếc xe trên. CQĐT ra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe Honda Airblade cho anh Phạm Văn Kiên.

Kết luận giám định số: 2335/KLGĐ-PC09 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:“Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,356 gam.”

Cáo trạng số: 124/CT-VKSBĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm C Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm C, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 02 tiền sự đã hết thời hiệu; bị cáo tại phiên tòa khai báo thành khẩn.

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng 20 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Tuấn A, Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong có 01 túi nolon mầu trắng kích thước 1,5cm x 1,5cm bên trong có 0,356 gam ma túy Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của đương sự và giám định viên.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong sớm trở về với gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng, người chứng kiến.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trước cửa số nhà 103 Trúc Bạch, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Nguyễn Tuấn A có hành vi tàng trữ 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước 1,5cm x 1,5cm, bên trong có chứa ma túy loại methamphetamine, khối lượng: 0,356 gam, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường Trúc Bạch phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo: 02 tiền sự đã hết thời hiệu, bị bắt quả tang ngày 09 tháng 4 năm 2019. Do vậy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Cần thiết áp dụng Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong có 01 túi nolon mầu trắng kích thước 1,5cm x 1,5cm bên trong có 0,356 gam ma túy Methamphetamine.

Đối với chiếc xe máy chiếc xe Honda Airblade màu đen mang BKS: 29H1-795.62; SK: 144548; SM: 1498610 Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Phạm Văn Kiên là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo hiện không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.

[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt:

- Nguyễn Tuấn A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong có 01 túi nolon mầu trắng kích thước 1,5cm x 1,5cm bên trong có 0,356 gam ma túy Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của đương sự và giám định viên theo biên bản bàn giao vật chứng số 132/CSĐT (ĐTMT) ngày 18 tháng 6 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2019./.

Cỡ chữ