vanban.org

Bản án 121/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 01/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thúy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo VÕ THÚY H 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/6/2018 đến ngày 01/7/2018. 2/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 23 N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo Thuy H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thúy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 121/2019/HSPT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

Ngày: 01/10/2019

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƯƠNG MỸ LINH

Các Thẩm phán:

1/ Bà BÙI THỊ NGHĨA

2/ Ông VÕ ĐÌNH PHƯƠNG

- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH – Thư ký Tòa án, Tòa án

nhân dân tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông

VÕ VĂN THÀNH - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 114/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Võ Thúy H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 18/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

VÕ THÚY H - Sinh ngày: 13/01/2001 tại Khánh Hòa

Nơi cư trú: Thôn Tân Hiệp, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Võ Văn S – sinh năm 1971 và bà Bùi Thị Trang P – sinh năm 1976.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ (bắt truy nã) từ ngày 28/6/2018 đến ngày 01/7/2018 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Anh L và Võ Thúy H là người không có nghề nghiệp. Từ ngày 28/02/2018 đến ngày 07/4/2018, L và H đã thực hiện 09 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Cam Ranh để làm nguồn sống chính. Cụ thể:

Vụ 01: Phạm Anh L rủ Võ Thúy H cùng với người tên L1, H1, U, M (chưa rõ lai lịch) đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố Cam Ranh để tìm xe mô tô trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Cả nhóm đồng ý. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/02/2018; L, H cùng với L1, H1, U, M ngồi uống nước ở vỉa hè ngã ba Mỹ Ca thuộc phường Cam Nghĩa; L1 nói với cả nhóm đi tìm xe mô tô trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Tất cả đồng ý. Sau đó, H, U, M ngồi tại quán nước chờ. L điều khiển xe mô tô hiệu Taurus chở H1, L1 đi đến đường vào mỏ đá Hàm Rồng ở thôn Quảng Phúc, xã Cam Thành Nam, thành phố Cam Ranh. Tại đây, L1 thấy xe mô tô biển số 79C1 - 151.87 của ông Trần Văn M1 (xe ông M1 mượn của con gái Trần Nguyên Lệ C) để ở ven đường. L dừng lại để L1, H1 đến rút dây bình điện xe của ông Minh. L1 điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được, L điều khiển xe chở H1 quay về quán nước. Sau đó, L và L1 mang xe mô tô 79C1 – 151.87 đi bán ở tiệm sửa xe thuộc quận Phú Nhuận được 800.000 đồng. Số tiền trên cả nhóm tiêu xài chung.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô hiệu WAND, biển số 79C1 - 151.87 trên, trị giá 3.500.000 đồng.

Vụ 02: Khoảng 14 giờ ngày 06/3/2018, L và H quen biết với người tên T, B (chưa rõ lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh. L rủ cả nhóm đến thành phố Cam Ranh để tìm xe mô tô trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Tất cả đồng ý và đón xe khách đi đến Cam Ranh. Khi đến ngã ba Mỹ Ca, cả nhóm đi đến khu vực bờ biển thuộc tổ dân phố Nghĩa Cam, phường Cam Nghĩa thì T và B thấy xe mô tô 79C1 - 044.20 của anh Trần Ngọc S1 để gần bờ biển, không có ai trông coi. T và B đến lấy trộm xe mô tô 79C1 – 044.20 và cả nhóm đi đến quán nước vỉa hè ở ngã ba Mỹ Ca, phường Cam Nghĩa.

Vụ 03: Sau khi lấy được xe trên, L nói H và B ngồi ở quán nước đợi còn L điều khiển xe mô tô 79C1 - 044.20 chở T tiếp tục đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến mỏ đá Hàm Rồng, L phát hiện xe mô tô 79U2 - 5338 của ông Trương Quang T1 dựng bên lề đường, không ai trông coi. L đến lấy trộm xe mô tô 79U2 - 5338 rồi điều khiển xe mô tô 79U2 - 5338, T điều khiển xe mô tô 79C1 - 044.20 quay lại quán nước. Sau đó, T và B lấy hai xe mô tô 79C1 - 044.20 và xe mô tô 79U2 - 5338 đi đâu không rõ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 74 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79C1 - 044.20 nhãn hiệu SOEM trên, trị giá 2.800.000 đồng (bút lục số 325, 326).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79U2 - 5338 nhãn hiệu MAXTHAI trên, trị giá 2.450.000 đồng.

Vụ 04: Khoảng 07 giờ ngày 01/4/2018, L điều khiển xe mô tô 53Y6 - 4149 chở H đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến khu vực đồng muối ở thôn Hòa Diêm, xã Cam Thịnh Đông; L thấy xe mô tô 79U2 - 8564, có gắn chìa khóa xe của anh Nguyễn Văn S2 để ở lề đường. L đến lấy xe mô tô 79U2 - 8564. L điều khiển xe mô tô 79U2 - 8564, còn H điều khiển xe mô tô 53Y6 - 4149 đi vào thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. L và H nhờ một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) dẫn đi bán xe mô tô 79U2 - 8564 cho ông Hồ Xuân Đ được 1.900.000 đồng. L cho người đàn ông giúp bán xe 300.000 đồng. Số tiền còn lại 1.600.000 đồng cả hai tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28 ngày 10/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79U2 - 8564 nhãn hiệu Yamaha Sirius trên, trị giá 11.500.000 đồng.

Vụ 05: Khoảng 11 giờ ngày 01/4/2018, L điều khiển xe mô tô 53Y6 - 4149 chở H đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đi đến đường thuộc thôn Nước Ngọt, xã Cam Lập; L thấy xe mô tô 79N6 - 8616 của anh Nguyễn Đức H2 để ở nhà bỏ hoang gần đường. L đến lấy xe mô tô 79N6 - 8616. Sau đó, L và H đến tiệm thu mua phế liệu của ông Trần Nhất S3 ở thôn Hòa Sơn, xã Cam Thịnh Đông bán xe mô tô 79N6 - 8616 cho ông Sơn được 450.000 đồng. Số tiền trên L và H tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 76 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79N6 - 8616 nhãn hiệu WAND trên, trị giá 2.100.000 đồng.

Vụ 06: Khoảng 17 giờ ngày 03/4/2018, L điều khiển xe mô tô 53Y6 - 4149 chở H đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến khu vực bờ biển gần nhà máy xi măng Hà Tiên thuộc thôn Hòa Diêm, xã Cam Thịnh Đông; L thấy xe mô tô 79C1 - 03798 của anh Mang C1 để ở khu vực bờ biển. L lấy trộm xe mô tô 79C1 - 03798 rồi L, H đến tiệm thu mua phế liệu của bà Bùi Thị T2 ở thôn Giải Phóng, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh bán cho bà T2 được 400.000 đồng. Số tiền trên L và H tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 79 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu SOEM, biển số 79C1 - 03798 trên, trị giá 2.800.000 đồng.

Vụ 07: Khoảng 17 giờ ngày 04/4/2018, L điều khiển xe mô tô 53Y6 - 4149 chở H đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đi đến khu vực bờ biển gần trường mẫu giáo Cam Thịnh Đông ở xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh; L thấy xe mô tô 79L7 - 5197 của ông Võ Thành L2 để trên bờ biển, không ai trông coi. L đến rút dây bình điện, cùng H mang đến tiệm thu mua phế liệu của bà Bùi Thị T2 bán cho bà T2 được 400.000 đồng. Số tiền trên cả hai tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79L7 - 5197 nhãn hiệu FUSKI trên, trị giá 2.100.000 đồng.

Vụ 08: Khoảng 11 giờ ngày 05/4/2018, L điều khiển xe mô tô biển số 53Y6 - 4149 chở Võ Thúy H đi tìm xe mô tô trộm cắp. Khi đến khu vực nhà máy xi măng Hà Tiên ở thôn Hòn Quy, xã Cam Thịnh Đông; L thấy xe mô tô 79Z1 - 086.16 của ông Hoàng Ngọc M2 để sát tường nhà máy xi măng, không ai trông coi. L đến thấy chìa khóa gắn trên xe nên lấy xe mô tô 79Z1 - 086.16 rồi điều khiển đi trước, còn H điều khiển xe mô tô 53Y6 - 4149 đi theo sau. Cả hai đi đến huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận bán cho anh Lê Xuân Đ1 được 1.500.000 đồng. Số tiền trên L và H tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29 ngày 10/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79Z1 - 086.16 nhãn hiệu Honda Wave S trên, trị giá 14.700.000 đồng.

Vụ 09: Khoảng 09 giờ ngày 07/4/2018, L điều khiển xe mô tô 53Y6-4149 chở H đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đến khu vực ruộng muối gần cầu Long Hồ thuộc tổ dân phố Mỹ Ca, phường Cam Nghĩa; L thấy xe mô tô 79F9-5192 của bà Trần Thị V để trên bờ ruộng, trên xe có gắn chìa khóa. L đến lấy xe rồi cùng H mang đến bán cho anh Lê Văn Bình T3 ở thôn Tân Hiệp, xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh được 2.500.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 39 ngày 05/6/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79F9-5192 nhãn hiệu Wave trên trị giá 1.200.000đ.

Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/4/2018, L rủ bạn là Nguyễn Thị Thu H3 đi uống nước ở quán nước vỉa hè thuộc phường Cam Phúc Bắc. L và H đến chỗ hẹn trước. Sau đó, H3 điều khiển xe mô tô 79C1- 420.04 hiệu Sirius đến quán nước. Lúc này, L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của H3 nên nói dối nhờ H3 chở về nhà L để lấy giấy tờ. H3 tưởng thật nên đồng ý. L điều khiển xe mô tô 79C1-420.04 chở H3 đi đến trước quán cà phê Đá Cuội ở tổ dân phố Hòa Thuận, phường Cam Nghĩa thì dừng lại nói H3 xuống xe, đợi L vào nhà lấy giấy tờ. H3 tin tưởng L nói thật nên xuống xe đợi. Sau đó, L đến nhà H3 gặp Nguyễn Thị Bích T4 (em gái Hương) nói dối với T4 là H3 nhờ L về lấy giấy tờ xe. T4 lấy giấy đăng ký xe mô tô 79C1- 420.04 và giấy chứng minh nhân dân của H3 đưa cho L. Sau đó, L quay lại quán nước chở H đi vào hướng thành phố Hồ Chí Minh. L nói với H là mượn xe của H3. Trên đường đi L điều khiển xe đến tiệm sửa xe không rõ trên đường Quốc lộ 1A. L nói H đứng ngoài đợi còn L vào thế xe mô tô 79C1- 420.04 cho chủ tiệm được 6.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 80 ngày 17/7/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: Xe mô tô biển số 79C1-420.04 trên trị giá 21.850.000 đồng.

Phạm Anh L, Võ Thúy H còn khai nhận cùng với L1, H1, U, M thực hiện trộm cắp 02 xe mô tô tại khu vực bãi tắm số 4 ở phường Cam Phú, thành phố Cam Ranh nhưng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh chưa xác minh được người bị hại nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Phạm Anh L, Võ Thúy H khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh đã thông báo đến Cơ quan Công an có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với Hồ Xuân Đ, Lê Xuân Đ1, Lê Văn Bình T3, Trần Nhất S3, Bùi Thị T2 có hành vi mua xe mô tô do Phạm Anh L bán nhưng Đ, Đ1, T3, S3, T2 không biết tài sản do L trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với người tên L1, H1, U, M, T, B hiện chưa xác định rõ lai lịch. Khi nào xác minh làm rõ, xử lý sau.

Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HSST ngày 18/4/2019 của Tòa án thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm n, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thúy H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Thời gian tạm giữ từ ngày 28/6/2018 đến 01/7/2018 được trừ vào thời hạn phạt tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với Phạm Anh L, về trách nhiệm dân sự, về vật chứng vụ án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 22/4/2019, bị cáo Võ Thúy H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thúy H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung yêu cầu xin được hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Võ Thúy H xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của kháng cáo:

Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Thúy H đề ngày 22/4/2019, được nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh vào ngày 23/4/2019. Theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo nói trên theo trình tự phúc thẩm.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thúy H thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của Phạm Anh L, của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2018 đến ngày 07/4/2018, bị cáo Võ Thúy H cùng với Phạm Anh L đã thực hiện 9 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Cam Ranh với tổng giá trị số tài sản bị cáo chiếm đoạt được của những người bị hại là 43.150.000 đồng. Bị cáo Võ Thúy H không có nghề nghiệp, bị cáo lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Như vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo Võ Thúy H:

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã nhiều lần xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Bị cáo phạm tội nhiều lần, có tính chất chuyên nghiệp nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng quy định về xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo 1 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và cần thiết để giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo Võ Thúy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thúy H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 173; điểm n, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo VÕ THÚY H 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/6/2018 đến ngày 01/7/2018.

2/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Bị cáo Võ Thúy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ