- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? X phạt Trần Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, thời hạn chấp hành h nh phạt tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/7/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh s; Điều 101 Bộ luật H nh s; Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------------------------------------------------------- Bản án số: 121/2019/HS-ST Ngày: 26-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lan Hương; nghề nghiệp: Giáo viên
Ông Doãn Văn Sáng; nghề nghiệp: Công chức
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng t sơ th m công khai vụ án h nh s sơ th m thụ lý số: 122/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra t số: 120/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn D, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2001 tại thành phố Hải Phòng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn A1, ã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Thôn R, ã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Tr nh độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D1, sinh năm 1965 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền s : Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2019 đến ngày 18/7/2019 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2002 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 5, ã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Tr nh độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962 và con bà Đinh Thị L, sinh năm 1962; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền s : Quyết định phạt vi phạm hành chính số 665A ngày 03/7/2019 của Công an huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phạt h nh thức phạt tiền về hành vi âm hại đến sức khỏe của người khác; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2019 đến ngày 18/7/2019 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn D: Ông Trần Văn D1 sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N sinh năm 1970 (là cha, mẹ của bị cáo); nơi đăng ký thường trú: Thôn A1, ã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn R, xã T1, huyện T, thành phố Hải Phòng; Ông Trần Văn D1 vắng mặt, bà Nguyễn Thị N có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn D: Bà Lương Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn T1: Ông Nguyễn Văn K sinh năm 1962 và bà Đinh Thị L sinh năm 1962 (là cha, mẹ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn 5, ã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T1: Bà Trương Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị hại:
Anh Nguyễn Văn D sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 7, thị trấn A2, huyện A3, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Anh Giang Sơn T3 sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T4, quận H2, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 11/7/2019, Trần Văn D, Nguyễn Văn T1 cùng nhóm bạn gồm Đinh Quốc Đ5, Vũ Xuân C5, Đinh Hoàng P5, Đinh Khắc N5 đến thị trấn M4, huyện T chơi. Tại đây, Trần Văn D đã rủ cả nhóm s dụng xe mô tô lạng lách, đánh võng nhằm mục đích trêu l c lượng Cảnh sát cơ động, cả nhóm đồng ý. Trần Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61H4-0290 chở Nguyễn Văn T1; Đinh Quốc Đ5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15AF-015.13 chở Đinh Hoàng P5, Vũ Xuân C5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15AF-076.82 chở Đinh Khắc N5 đến khu v c trước c a nhà nghỉ Sơn Nguyên ở thị trấn M4 thì dừng lại. Trần Văn D xuống xe nhặt 02 hòn gạch chỉ vỡ đưa cho Đinh Hoàng P5; nhặt viên 02 hòn gạch lát vỉa hè bị vỡ đưa cho Nguyễn Văn T1. Trần Văn D nói với Đinh Hoàng P5 và Nguyễn Văn T1 “cầm lấy nếu gặp cơ động thì ném”. Sau đó, cả nhóm điều khiển e mô tô đi ra khu v c đường đập thị trấn M4, huyện Thủy Nguyên thì gặp 02 xe mô tô của tổ công tác Cảnh sát cơ động, Công an thành phố Hải Phòng đang tuần tra, kiểm soát. Trần Văn D điều khiển xe chở Nguyễn Văn T1, Đinh Quốc Đ5 điều khiển xe chở Đinh Hoàng P5, Vũ Xuân C5 điều khiển xe chở Đinh Khắc N5 lạng lách, đánh võng trước đầu xe mô tô của l c lượng Cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ rồi bỏ chạy.
Sau đó, Trần Văn D điều khiển xe chở Nguyễn Văn T1, Đinh Quốc Đ5 điều khiển xe chở Đinh Hoàng P5, Vũ Xuân C5 điều khiển xe chở Đinh Khắc N5 ra tỉnh lộ 359 đến khu v c cầu My Đông thuộc thôn 8, xã N4, huyện T thì thấy anh Nguyễn Văn D cấp bậc Thiếu úy, Giang Sơn T3 cấp bậc Trung úy thuộc Phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố Hải Phòng đang đứng ở r a đường đang làm nhiệm vụ. Trần Văn D điều khiển xe lạng lách sát vào vị trí anh Nguyễn Văn D, Giang Sơn T3 đứng. Nguyễn Văn T1 ngồi sau dùng hòn gạch bằng bê tông lát nền vỉa hè (kích thước 11 x 9 x 2,5cm) ném trúng vào vùng mặt làm anh Nguyễn Văn D bị thương nặng. Sau đó, Trần Văn D tăng ga điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T1 bỏ chạy về hướng thị trấn Núi Đèo. Đinh Quốc Đ5, Vũ Xuân C5, Đinh Hoàng P5, Đinh Khắc N5 điều khiển xe bỏ chạy theo. Tại khu công nghiệp Vsip huyện Thủy Nguyên, Trần Văn D nói cả nhóm quay lại trêu l c lượng Cảnh sát cơ động. Trần Văn D điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T1, Đinh Quốc Đ5 chở Đinh Hoàng P5, Vũ Xuân C5 chở Đinh Khắc N5 quay lại đường tỉnh lộ 359. Khi đi đến khu v c cầu My Đông thuộc thôn 8, xã N4, huyện Thủy Nguyên thì bị tổ công tác Cảnh sát cơ động gồm anh Đoàn Huy D3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B1-001.90 chở anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988; anh Giang Sơn T3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B1-003.85 phát hiện truy đuổi. Trần Văn D điều khiển xe chở Nguyễn Văn T1 ngồi sau bỏ chạy. Khi đến khu v c cổng trường cấp 2, xã N4, huyện Thủy Nguyên, Nguyễn Văn T1 ngồi sau dùng 01 hòn gạch ném trúng gương chiếu hậu xe mô tô do anh Giang Sơn T3 điều khiển đang truy đuổi phía sau làm gương chiếu hậu xe mô tô bị vỡ, mảnh gương vỡ đã bắn vào mu bàn tay trái làm anh Giang Sơn T3 rách da, chảy máu. Anh Đoàn Huy D3 điều khiển xe mô tô chở anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988 truy đuổi đến khu v c xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên thì bắt được Đinh Quốc Đ5 và Đinh Hoàng P5, tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 15AF-013.15, bàn giao Đại và Phong cho Công an huyện Thủy Nguyên x lý. Trần Văn D điều khiển xe chở Nguyễn Văn T1 bỏ chạy thoát. Anh Nguyễn Văn D bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng.
Nhận được tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 phần viên gạch bằng bê tông dùng lát nền vỉa hè, kích thước (11 x 9 x 2,5)cm; 02 mảnh thủy tinh dạng gương vỡ, kích thước (2,5 x 3)cm.
Gia đ nh Vũ Xuân C5 đã giao nộp Cơ quan điều tra 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AF-076.82 do Vũ Xuân C5 điều khiển tối ngày 11/7/2019; chị Đinh Thị H3, sinh năm 1981 là chủ quán Internet ở thôn 4, P, huyện T đã giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dayang, biển kiểm soát 61H4-6290 do Trần Văn D điều khiển tối ngày 11/7/2019.
Anh Nguyễn Văn D điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng đến ngày 23/7/2019 thì ra viện. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 330/2019/TgT ngày 12/7/2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: anh Nguyễn Văn D có một vết thương rách da đã khâu ở vùng gò má phải dưới mắt phải dài 04cm; một vết thương rách da đã khâu ở vùng sống mũi dài 02cm; 01 vết ây ước da vùng đầu trong cung mày trái, kích thước 03cm x 01cm; gãy thành trước xoang hàm phải, nền hốc mắt và thành ngoài hốc mắt phải. Tỷ lệ phần trăm cơ thể do các vết thương rách da vùng mặt có ảnh hưởng th m mỹ gây nên là 12%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chấn thương gãy thành trước xoang hàm phải gây nên là 13%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chấn thương vỡ thành hốc mắt phải gây nên là 06%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân theo phương pháp cộng lùi và làm tròn số là 28%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng tác động tr c tiếp gây nên.
Anh Giang Sơn T3 bị thương nhẹ không phải điều trị tại bệnh viện. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 390/2019/TgT ngày 31/7/2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: anh Giang Sơn T3 bị chấn thương gây rách da nhỏ mu bàn tay trái, không tổn thương ương khớp; vết thương tương đối ổn định, để lại sẹo nhỏ không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích trên gây nên là 01%. Thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ tr c tiếp với vật có góc cạnh cứng gây nên. Anh Nguyễn Văn D, Giang Sơn T3 đề nghị khởi tố, x lý người đã gây thương tích cho m nh về tội Cố ý gây thương tích.
Về dân s : Trong giai đoạn điều tra ông Nguyễn Văn K là bố đẻ của Nguyễn Văn T1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn D 50.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại 01 chiếc gương e mô tô bị vỡ số tiền 80.000 đồng; bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của Trần Văn D đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn D 20.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn D yêu cầu Trần Văn D, Nguyễn Văn T1 tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích, th m mỹ khắc phục vết sẹo, tổn thất về tinh thần tổng số là 100.000.000 đồng. Anh Giang Sơn T3 bị thương tích nhưng không yêu cầu Trần Văn D, Nguyễn Văn T1 bồi thường.
Vật chứng của vụ án: 01 phần viên gạch bằng bê tông dạng gạch lát nền vỉa hè kích thước (11 x 9 x 2,5)cm; 02 mảnh thủy tinh dạng gương vỡ kích thước (2,5 x 3)cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dayang.
Cáo trạng số 120/CT-VKSTN ngày 05 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn T1 về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật H nh s .
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận đã th c hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo nhưng đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo. Người đại diện hợp pháp và Người bào chữa cho các bị cáo đồng nhất với các quan điểm của Kiểm sát viên về trách nhiệm h nh s , dân s và đề nghị Hội đồng t giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Các bị cáo, Người đại diện hợp pháp và Người bào chữa cho các bị cáo đều trình bày không yêu cầu mời đại diện trường học, đoàn thanh niên tham gia phiên tòa. Bị hại tr nh bày đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở trên, anh Nguyễn Văn D đồng ý các bị cáo đã bồi thường 70.000.000 đồng sẽ có yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích sau và đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng t : Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 17, Điều 38, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật H nh s , phạt bị cáo Trần Văn D với mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù và bị cáo Nguyễn Văn T1 với mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; Về bồi thường thiệt hại các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường số tiền 70.000.000 đồng. Yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích sau khi bị hại có đơn yêu cầu. X lý vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật H nh s và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh s đề nghị lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Các bị cáo phải nộp án phí h nh s sơ th m theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá tr nh điều tra, truy tố, t đều hợp pháp.
- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo:
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, lời khai của bị hại, kết luận giám định pháp y về thương tích, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. V vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 11/7/2019, Trần Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61H4-0290 áp sát để Nguyễn Văn T1 dùng 01 phần viên gạch lát vỉa hè bằng bê tông ném trúng vào vùng mặt của anh Nguyễn Văn D là Cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ làm anh Dũng tổn hại 28% sức lao động. Khi bị đuổi bắt, Duy điều khiển e mô tô để Trí dùng 01 phần viên gạch lát vỉa hè bằng bê tông ném làm anh Giang Sơn T3 Cảnh sát cơ động bị thương tổn hại 1% sức lao động. Các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ và đối với người đang thi hành công vụ nên hành vi của các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn T1 đã phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật H nh s . Cáo trạng số 120/CT-VKSTN ngày 05 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố các bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s , t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s , nhân thân của bị cáo. Các bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế:
. Đây là vụ án đồng phạm, phân hóa vai trò những người đồng phạm t thấy bị cáo Trần Văn D là người đề uất và th c hành tích c c nên vị trí, vai trò cao hơn bị cáo Nguyễn Văn T1, bị cáo Nguyễn Văn T1 là những người th c hành giúp sức.
Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s : Các bị cáo không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s .
Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s : Các bị cáo đều t nguyện bồi thường thiệt hại, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội bị hại in giảm nhẹ h nh phạt cho các bị cáo nên các bị cáo có các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh s .
Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Trần Văn D phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền s . Bị cáo Nguyễn Văn T1 đã có tiền s .
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm đã âm phạm sức khỏe người khác gây mất trật t trị an ã hội. V vậy thấy cần thiết phải áp dụng h nh phạt tù đối với các bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng t thấy rằng cần thiết phải áp dụng h nh phạt tù trên mức khởi điểm của khung h nh phạt, buộc các bị cáo phải cách ly ã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng cho từng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do các bị cáo ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội nên áp dụng Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật H nh s để quyết định mức h nh phạt. Như vậy mức h nh phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp.
- Về những vấn đề khác:
Về dân s : Anh Giang Sơn T3 bị thương tích nhưng không yêu cầu Nguyễn VănTrí, Trần Văn D bồi thường nên Hội đồng t không xem xét. Trong giai đoạn điều tra ông Nguyễn Văn K là cha đẻ của Nguyễn Văn T1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn D 50.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại 01 chiếc gương e mô tô bị vỡ số tiền 80.000 đồng; bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của Trần Văn D đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn D 20.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn D yêu cầu Nguyễn Văn T1, Trần Văn D tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích, th m mỹ khắc phục vết sẹo tổng số là 100.000.000 đồng. Xác định số tiền 70.000.000 đồng các bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn D là tiền thuốc chữa trị vết thương, tổn thất về tinh thần, công người chăm sóc, chi phí đi lại và mất thu nhập khi anh Nguyễn Văn D bị thương tích là phù hợp Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân s và Điều 48 Bộ luật H nh s . Do anh Nguyễn Văn D chưa uất tr nh được các tài liệu chứng minh cho việc yêu cầu bồi thường tiếp số tiền 100.000.000 đồng nên Hội đồng t tách ra giải quyết bằng vụ án dân s khác khi anh Nguyễn Văn D có yêu cầu.
Về lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật H nh s và Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh s : Tịch thu tiêu hủy 01 phần viên gạch bằng bê tông dạng gạch lát nền vỉa hè kích thước (11 9 2,5)cm; 02 mảnh thủy tinh dạng gương vỡ kích thước (2,5 3)cm là vật liên quan đến tội phạm và không còn giá trị s dụng. Tịch thu phát mại 01 e mô tô nhãn hiệu Dayang sung công quỹ Nhà Nước có liên quan đến việc phạm tội.
Trong vụ án này: Đối với chiếc e mô tô biển kiểm soát 15AF-076.82, tài liệu điều tra ác định là tài sản của Vũ Xuân C5; chiếc e mô tô biển kiểm soát 15AF-015.13 là tài sản của chị Đinh Thị Ngọc A6 cho Đinh Quốc Đ5 nên Cơ quan điều tra đã trả cho Vũ Xuân C5, Đinh Quốc Đ5 s dụng. Đối với 01 biển kiểm soát 61H4-6290 anh Nguyễn Văn C6, sinh năm 1974 ở ã T3, huyện T, thành phố Hải Phòng khai mua lại chiếc e mô tô nhãn hiệu Dayang tại quán sắt vụn của ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1958 ở thôn X, xã T3, huyện T do e không có biển kiểm soát nên anh Chiến đã lấy biển kiểm soát trên ở quán gắn vào e, Cơ quan điều tra tách ra, điều tra, ác minh làm rõ lý sau. Trong vụ án này có Đinh Quốc Đ5, Đinh Hoàng P5, Vũ Xuân C5, Đinh Khắc N5 được Trần Văn D rủ đi trêu Cảnh sát cơ động. Đại, Phong, Cường, Nam không tham gia cùng Trí, Duy ném gây thương tích cho anh Nguyễn Văn D, Giang Sơn T3. Vì vậy không đồng phạm với Trí, Duy. Trần Văn D, Nguyễn Văn T1, Đinh Quốc Đ5, Đinh Hoàng P5, Vũ Xuân C5, Đinh Khắc N5 có hành vi điều khiển xe mô tô, ngồi trên e mô tô không đội mũ bảo hiểm, lạng lách, đánh võng; Nguyễn Văn C có hành vi giao e cho người không đủ điều kiện nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định x phạt vi phạm hành chính. Quá tr nh điều tra, Đinh Hoàng P5 khai dùng gạch ném về phía tổ công tác Cảnh sát cơ động tại khu v c thị trấn M4 nhưng không trúng. Ngoài lời khai của Phong, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Phong ra điều tra làm rõ x lý sau.
Bị cáo phải nộp án phí h nh s sơ th m theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật H nh s :
X phạt Trần Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, thời hạn chấp hành h nh phạt tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/7/2019.
X phạt Nguyễn Văn T1 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, thời hạn chấp hành h nh phạt tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/7/2019.
Về lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật H nh s và Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh s : Tịch thu tiêu hủy 01 phần viên gạch bằng bê tông dạng gạch lát nền vỉa hè kích thước (11 9 2,5)cm; 02 mảnh thủy tinh dạng gương vỡ kích thước (2,5 x 3)cm. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 e mô tô nhãn hiệu Dayang (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân s huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Về án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng H nh s ; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí h nh s sơ th m.
Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng h nh s : Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s th người được thi hành dân s , người phải thi hành dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; -VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; -VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên; - Chính quyền cấp ã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - PV27, CAHP; - Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhã |