- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn T phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hồ Văn Tuấn cho Ủy ban nhân dân xã QTh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2019/HS-ST Ngày: 11-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Thị Thúy Hằng.
Ông Hồ Hữu Thỏa. Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn T (Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 26 tháng 9 năm 2003 tại xã QTh, huyện QL, tỉnh Nghệ An (Đến ngày phạm tội thì bị cáo 15 tuổi 10 tháng 23 ngày); nơi cư trú: Xóm 13, xã QTh, huyện QL, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Văn D và con bà: Trần Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Phạm Thị L. Luật sư – Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Nơi công tác: Văn phòng Luật sư HTh.
Địa chỉ: Khối 3, thị trấn CG, huyện QL, Nghệ An.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
Ông Hồ Văn D, sinh năm 1976. Có mặt.
Bà Trần Thị H, sinh năm 1984. Có mặt.
Cùng nơi cư trú: Xóm 13, xã QTh, huyện QL, Nghệ An.
- Đại diện Trung tâm giáo dục thường xuyên cơ sở II. Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 7, xã QTh, huyện QL, Nghệ An.
- Bị hại: Chị Trần Thị Thảo Ng, sinh ngày 30/9/2003. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Quý Ph, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Khối 6, thị trấn CG, huyện QL, Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Hồ Trọng H, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm 5, xã QL1, huyện QL, Nghệ An.
Anh Trần Duy Đ, sinh ngày 07/5/2006. Có mặt.
Anh Hồ Hữu Th, sinh ngày 19/9/2006. Có mặt.
Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Trần Duy M, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Bà Hồ Thị Tr, sinh năm 1973. Có mặt.
Cùng nơi cư trú: Xóm 7, xã QTh, huyện QL, Nghệ An.
- Người làm chứng:
Chị Hoàng Thị Lan A, sinh ngày 02/02/2003. Vắng mặt.
Chị Hồ Hà Ph, sinh ngày 09/9/2003. Vắng mặt.
Chị Bùi Thị Tú U, sinh ngày 26/4/2003. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của người làm chứng:
Bà Đặng Thị Ng. Vắng mặt.
Bà Hồ Thị H. Vắng mặt.
Ông Bùi Văn Kh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19h30 phút, ngày 19/8/2019, Hồ Văn T điều khiển xe máy Wave anpha mang biển kiểm soát 37L2-259.14 của ông Hồ Văn D, chở Trần Duy Đ và Hồ Hữu Th, đi lên cầu vượt thị trấn CG chơi. Khi phát hiện thấy: 01 xe máy do Hoàng Thị Lan A điều khiển chở Trần Thảo Ng và 01 xe máy do Hồ Hà Ph điều khiển chở Bùi Tú U đi từ hướng xã QM xuống xã QB. Th nói “chạy đuổi theo mấy đứa kia đi”, T đồng ý chạy đuổi theo hai xe máy. Khi đuổi kịp, nhóm T có buông lời trêu ghẹo nhóm Thảo Ng, nhưng nhóm Thảo Ng không trả lời. Khi đi qua vòng xuyến xã QH, Th nói “Nó không trả lời, thì lấy máy đi”, T, Đ đồng ý. Nhóm Thảo Ng đi theo đường 48B rẽ vào xã QH1, T tăng tốc vượt nhóm Thảo Ng và dừng trên cầu kênh đường 24B vào xã QH1. Thấy nhóm T dừng trên cầu kênh, nhóm Thảo Ng quay đầu xe đi ngược ra, lo sợ nên Thảo Ng dùng điện thoại gọi cho bố thì bị T áp sát xe, Đệ giật điện thoại rồi T tăng tốc bỏ chạy về nhà Đ. T, Đ, Th kiểm tra điện thoại và giao cho Đ cất giữ.
Sáng ngày 20/8/2019, T, Đ, Th gặp nhau và thống nhất đưa điện thoại xuống cửa hàng sửa chữa điện thoại Diệu Anh để bẻ khóa Icloud, do không bẻ khóa được, nên Đ bán cho anh Hồ Trọng H với giá 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng). T, Đ chia nhau, mỗi người 150.000đ (Một trăm, năm mươi ngàn đồng), Th 100.000đ (Một trăm ngàn đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu yêu cầu định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 211, ngày 03/9/2019, Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Quỳnh Lưu xác định: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám, có ốp lưng màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, có số Model A1688 FCCID: BCG-E2946AIC: 579C-E2946A có giá trị 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Bản cáo trạng số 120/CT-VKS-HS ngày 21/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo Hồ Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm d, g khoản 2 điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 15-18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30-36 tháng.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được nhận lại tiền mua điện thoại, không yêu cầu gì, không xem xét.
Vật chứng: Iphone 6S đã được trả cho chị Thảo Ng, xe máy wave anpha được trả cho ông Hồ Văn D, là đúng quy định của pháp luật.
Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa, đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hồ Văn D đã được nhận lại xe máy, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội cải tạo làm người có ích. Trần Duy Đ và Hồ Hữu Th thừa nhận việc thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và không có ý bổ sung gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn T khai nhận: Khoảng 20h00 phút, ngày 19/8/2019, Tuấn điều khiển xe máy Wave anpha biển kiểm soát 37L2-25914 chở Trần Duy Đ và Hồ Hữu Thếđi trên đường liên xã QH1 sang xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An. Sau khi bàn bạc thống nhất, T điều khiển xe áp sát xe chị Hoàng Thị Lan A điều khiển chở chị Trần Thảo Ng, Đ dùng tay phải giật điện thoại Iphone 6S của Thảo Ng và T tăng tốc bỏ chạy. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác rồi tẩu thoát là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu, làm ảnh hưởng đến quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo sử dụng xe máy có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại; bị cáo phạm tội khi chị Nguyên mới 15 tuổi 10 tháng 19 ngày. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố là đúng quy định pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi phạm tội, bị cáo mới 15 tuổi 10 tháng 23 ngày, nên áp dụng quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Có tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, biết sai trái đã tích cực tác động, đề nghị gia đình khắc phục hậu quả vật chất, trả tiền cho anh Hải; trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài lần phạm tội này, thì từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thảo Ng đã nhận lại tài sản. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hồ Trọng H đã nhận lại 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng). Không có yêu cầu gì, nên không xem xét.
Xử lý vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6S đã được trả cho chị Thảo Ng. 01 (Một) xe máy Wave anpha biển kiểm soát 37L2-259.14 đã được trả cho ông Hồ Văn D. Là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trần Duy Đ và Hồ Hữu Th khi thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không bị truy tố. Anh Hồ Trọng H mua điện thoại mà không biết tài sản do T phạm tội mà có, ông Hồ Văn D không biết bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự, là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Văn T 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba sáu) tháng. Về tội: Cướp giật tài sản. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hồ Văn Tuấn cho Ủy ban nhân dân xã QTh, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp cùng Ủy ban nhân dân và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục người đó, thông báo kết quả chấp hành án của người bị kết án với Ủy ban nhân dân khi có yêu cầu.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
2. Án phí: Áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hồ Văn T.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |