vanban.org

Bản án 121/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện Nguyễn Văn H;

Giữ nguyên Bản án số 01/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Toà án nhân dân huyện T về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện Nguyễn Văn H;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2019/HSPT
Ngày: 23/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Trương QVăn

Bà Lê Thị Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2019/TLPT-HS ngày 04/3/2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, do có kháng cáo của người đại diện cho bị cáo đối với Bản án số 01/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo có liên quan đến kháng cáo:

Nguyễn Văn Q Sinh năm 1970, tại xã Hoằng Thanh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Nơi cư trú: Thôn Hải T, xã Hải L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Qtịch: Việt nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông: Nguyễn Văn Th và bà Đào Thị T ( đều đã chết); có vợ là Bùi Thị L, có 02 con; con lớn sinh năm 1990; con nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/7/2018 đến ngày 12/7/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Đức T, Luật sư Công ty Luật TNHH Hùng T, Đoàn Luật sư Thành Phố Hà Nội, có mặt.

Người đại diện cho bị cáo có kháng cáo:

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962, trú tại thôn X, xã Hải L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Bị hại không kháng cáo: Anh Lường T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Bà Hồ Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đêm ngày 07/7/2018, Nguyễn Văn Q cùng với Lường T đến xem bóng đá tại nhà bà Hồ Thị T ở thôn Hải T, xã Hải L, huyện T. Tại đây giữa Qvà anh T lời qua tiếng lại với nhau. Nghĩ đến việc trước đây T từng xô xát và hay chửi bới mình nên Nguyễn Văn Q đứng dậy đi vào trong quán nhà bà T lấy một con dao ở bàn nấu ăn, rồi đi lại phía anh T đang ngồi xem bóng đá, bất ngờ chém mạnh vào mặt anh T. Do bất ngờ bị chém, anh T ôm mặt bỏ chạy thì Qtiếp tục chém thêm hai nhát về phía anh T, một nhát trúng chẩm đầu lệch về bên trái và 01 nhát trúng vào vùng gáy. Sau đó Qvứt dao lại quán rồi đi về nhà. Đến ngày 08/7/2018 Nguyễn Văn Q đến cơ quan công an đầu thú.

Đối với anh Lường T, sau khi bị Qgây thương tích, được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viên đa khoa huyện T và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Lường T ngày 08/07/2018, Công an huyện T và Bệnh viện Đa khoa huyện T đã xác định các dấu vết thương tích trên thân thể anh T như sau như sau:

01 vết thương vùng chẩm trái dài khoảng 12cm, sắc gọn, sâu sát xương, chảy máu; 01 vết thương vùng gáy dài khoảng 10cm, sắc gọn, chảy máu; 01 vết thương ngang mặt, mũi dài khoảng 16cm, sắc gọn.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 527/2018/TTPY ngày 15/8/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:

Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Lường T là 33%.

Quá trình điều tra phát hiện Nguyễn Văn Q có biểu hiện bệnh lý tâm thần nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã Trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Văn Q.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 351 ngày 23/10/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Tại thời điểm phạm tội và thời điểm giám định, Nguyễn Văn Q bị bệnh rối loạn loại phân liệt. Theo phân loại Qtế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F21. Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Về vật chứng của vụ án: Gồm 01 con dao dài 34 cm; 01 phong bì thư được dán mép, bên trong chứa 01 USB lưu dữ liệu file video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn Q dùng dao chém vào người anh Lường T được trích sao từ Camera của gia đình bà Hồ Thị T.

Về phần dân sự: Theo báo cáo, anh T bị thiệt hại về sức khỏe, phải chi phí số tiền 111.320.000đ nhưng chưa thu thập được chứng cứ để cung cấp cho Tòa án nên anh T đã có đơn xin tách phần dân sự để giải quyết thành vụ án khác.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 01/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định: Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt Nguyễn Văn Q 05 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn áp dụng Điều 30 của BLTTHS, tuyên tách phần dân sự của vụ án để giải quyết thành vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự; tuyên xử lý tang vật, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Sau án sơ thẩm xử, ngày 30/01/2019 anh Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo bị bệnh tâm thần và có uống rượu nên không kiểm soát được hành vi của mình, đã gây thương tích cho anh T. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo quá nặng, không đúng với quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xem xét lại hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

Tại phiên tòa, anh H bổ sung kháng cáo cho rằng kết quả giám định anh T bị thương tích mất 33% sức khỏe là không đúng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trong bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên nhận thấy kháng cáo của anh H cho rằng bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo quá nặng và anh H khiếu nại về kết quả giám định tỷ lệ thương tích đối với bị cáo là không có căn cứ nên KSV đề nghị HĐXX giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

Ý kiến của người bào chữa: Giám định pháp y kết luận vết thương vùng mặt của anh T mất 26% sức khỏe là chưa đúng với văn bản hướng dẫn của cơ quan y tế và quy định của pháp luật; các sẹo phần mềm của anh T không thuộc trường hợp kích thước lớn như văn bản hướng dẫn nhưng kết luận 10% là chưa chính xác.

Đối với kết quả giám định của Pháp y tâm thần trung ương thì Luật sư cho rằng kết luận “Bị cáo Nguyễn Văn Q đủ khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi” là chưa đúng với hướng dẫn của Bộ y tế. Theo luật sư thì cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS tại các điểm e, p, q Khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo.

Luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại đối với tỷ lệ thương tích của bị hại và tình trạng tâm thần đối với bị cáo.

KSV đối đáp lại với ý kiến của Luật sư: Kết quả giám định của Hội đồng giám định pháp y Thanh Hóa và Hội đồng Pháp y tâm thần trung ương đối với bị cáo, bị hại là khách quan, đúng pháp luật; không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại như Luật sư nêu.

Bị cáo và người đại diện cho bị cáo không tranh luận gì với ý kiến của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng lượng khoan H của pháp luật, được giảm án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của người tiến hành tố tụng và của Cơ quan tiến hành tố tụng.

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đơn kháng cáo của đại diện cho bị cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các T liệu có trong hồ sơ và nhận định của bản án sơ thẩm, thể hiện:

Khoảng 22 giờ ngày 07/7/2018, tại thôn Hải T, xã Hải L, huyện T; do có mâu thuẫn với anh Lường T nên Nguyễn Văn Q đã dùng dao chém vào mặt, vào đầu và vào vùng gáy của anh Lường T, gây thương tích cho anh T bị tổn hại mất 33% sức khỏe.

Với hành vi trên, Nguyễn Văn Q bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c Khoản 3 Điều 134 BLHS là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe người khác trái pháp luật; gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét kháng cáo của đại diện bị cáo, thấy rằng: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, xem xét đầy đủ về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự đối với bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết gì mới để xem xét. Quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của người đại diện cho bị cáo.

Đối với ý kiến tranh luận của Luật sư, HĐXX thầy rằng: Tổ chức giám định pháp y Thanh Hóa và Tâm thần trung ương là những cơ quan giám định có tư cách pháp nhân, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Kết quả giám định nói trên là do Hội đồng thực hiện, khách quan và không trái với những văn bản của Bộ y tế cũng như quy định của pháp luật.Vì vậy không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm, điều tra lại như Luật sư nêu. Luật sư đề nghị áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo tại các điểm e, p Khoản 1 Điều 51 BLHS là không có căn cứ.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên đại diện cho bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện Nguyễn Văn H;

Giữ nguyên Bản án số 01/2019/HSST ngày 25/01/2019 của Toà án nhân dân huyện T về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Văn Q 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tù tính từ ngày 08/7/2018.

Anh Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm;

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ