- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Thị Ánh N, Phạm Văn H - Phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Điều 251 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Bùi Thị nh N, bị cáo Phạm Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2019/HS-PT Ngày: 17 - 5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước.
Ông Ngô Tấn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 83/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Thị Ánh N và bị cáo Phạm Văn H, do có kháng cáo của các bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-ST ngày 15 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Các bị cáo kháng cáo:
1. Bùi Thị nh N, sinh năm 1993 tại Đồng Tháp; đăng ký hộ khẩu thường trú: T x, Kh m M, Phường xx, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Không c nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà V Bích T; có con là Bùi Trung N, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị b t, tạm giam: Ngày 24/9/2018, bị cáo N đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Tháp; c mặt.
2. Phạm Văn H (thường gọi là L), sinh năm 1997 tại Đồng Tháp; đăng ký hộ khẩu thường trú: T x, ấp Đ, x H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Không c nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Phước H và bà V Thị T; vợ, con: Chưa c ; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 20/6/2018, tạm giam ngày 29/6/2018, bị cáo H đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Tháp; c mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H: Ông Ngô Trọng H, Luật sư của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Luật H và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp; v ng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Lê Ngọc Bích T, sinh ngày 29/5/2001; nơi cư trú: T x, Ấp x, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; v ng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Lê Ngọc Bích T: Anh Bùi Văn C, Ph Bí thư Phường đoàn Phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; v ng mặt.
2. Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1981; nơi cư trú: T x, Khóm x, Phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
3. Mai Văn Lý H, sinh năm 1987; nơi cư trú: T 17, ấp Đông Thạnh, x Tân Thuận Đông, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; v ng mặt.
Ngoài ra trong vụ án Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:
Vào lúc 21 giờ 50 phút ngày 19/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp lập biên bản phạm tội quả tang tại Phòng trọ số x, nhà trọ A-x, T x, Kh m x, Phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thu giữ trong lòng bàn tay trái của Phạm Văn H gồm 01 hộp k o nh n hiệu Doublemint bên trong c chứa 11 bịch nylon màu tr ng được hàn kín, bên trong bịch nylon c chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (niêm phong ký hiệu A1 và 600.000 đồng. Thu giữ trong túi xách da màu đen của Bùi Thị nh N 01 hộp k o nh n hiệu Doublemint, bên trong hộp k o chứa 03 bịch nylon màu tr ng được hàn kín, bên trong bịch nylon chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (niêm phong ký hiệu A3 ; trong ngăn kéo phía bên ngoài bìa của túi xách c 01 bịch nylon lớn dạng túi k p, 02 bịch nylon nh được hàn kín, bên trong 03 bịch nylon c nhiều tinh thể r n màu tr ng (niêm phong ký hiệu A4 . Thu giữ khu vực kệ bàn 01 bịch nylon màu tr ng được hàn kín, bên trong c chứa nhiều tinh thể r n màu tr ng (niêm phong ký hiệu A2 . Ngoài ra còn thu giữ công cụ, đồ vật gồm 01 máng xúc tự chế bằng ống hút nhựa màu hồng; 01 bịch nylon màu tr ng c bốn mặt, hai mặt được hàn kín; 01 hộp bằng kim loại, hình chữ nhật, bên trong c chứa 01 cân điện tử mini; 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy gồm 01 bình nhựa bằng thủy tinh, phía trên c 02 lỗ tròn, một lỗ tròn g n với 01 n thủy tinh màu tr ng, một lỗ tròn g n với ống hút nhựa màu tr ng; 02 hột qu t; 01 bình gas mini hiệu Blufstar màu đen; 02 bịch nylon màu tr ng, hàn kín 03 mặt; 01 ống hút nhựa màu xanh tr ng, một đầu bằng một đầu được c t xéo; 01 ống hút nhựa màu tr ng, một đầu bằng một đầu được c t xéo; 03 cây kéo bằng kim loại màu tr ng; 02 cuộn băng keo màu tr ng; 03 mãnh nylon màu tr ng hình chữ nhật; 01 điện thoại hiệu Oppo màu bạc tr ng; 01 điện thoại Samsung màu tr ng; 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen - tr ng; 01 xe môtô hiệu Click, biển số 66P1 - 018.78; 01 xe môtô nh n hiệu inner màu xanh tr ng, biển số 65B1 - 85.330; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc tr ng.
Tại Kết luận giám định số: 426/KL-KTHS ngày 22/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
Tinh thể r n chứa trong 11 bịch nylon hàn kín, được niêm phong ký hiệu A1 đều là chất ma túy, c t ng khối lượng 4,1766 gam, loại Methamphetamine (niêm phong lại chất ma túy còn lại sau giám định c khối lượng 4,1411 gam ký hiệu 426/A1 ngày 22-6-2018).
Tinh thể r n chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, được niêm phong ký hiệu A2 là chất ma túy, khối lượng 0,1729 gam, loại Methamphetamine (niêm phong lại chất ma túy còn lại sau giám định c khối lượng 0,1556 gam ký hiệu 426/A2 ngày 22-6-2018).
Tinh thể r n chứa trong 03 bịch nylon hàn kín, được niêm phong ký hiệu A3 là chất ma túy, khối lượng 1,1423 gam, loại Methamphetamine (niêm phong lại chất ma túy còn lại sau giám định c khối lượng 1,1055 gam ký hiệu 426/A3 ngày 22-6-2018).
Tinh thể r n chứa trong 03 bịch nylon hàn kín (01 bịch dạng n p k p và 02 bịch nylon hàn kín , được niêm phong ký hiệu A4 đều là chất ma túy, c t ng khối lượng 3,2066 gam, loại Methamphetamine (niêm phong lại chất ma túy còn lại sau giám định c khối lượng 3,1330 gam ký hiệu 426/A4 ngày 22-6-2018).
Số ma túy thu được, N cho rằng khoảng 04 giờ ngày 19/6/2018 N đi xe khách t thành phố C đến Thành phố Hồ Chí Minh mua 3.500.000 đồng ma túy đá, không xác định được khối lượng của một người nam tên H (không r nhân thân đem về nhà trọ C ở Kh m x, Phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp là nơi tạm trú của N cất giữ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N mang phần ma túy này đến phòng số 4, nhà trọ A- 139, thuộc T x, Kh m x, Phường x, thành phố C là nơi N thuê cho H ở (N quen biết với H và cùng nghiện ma túy đá, H giúp sức cho N trong việc mua bán trái phép chất ma túy, đ i lại H được N cho ăn, ở và ma túy sử dụng . Tại đây N đưa H 01 tép ma túy trong bịch nylon để sử dụng, H lấy 01 phần b vào n (là dụng cụ tự chế sử dụng trái phép chất ma túy để cùng N sử dụng phần còn lại hàn kín lại để trên bàn. Trong lúc này c Mai Văn Lý N ở trong phòng nên N rủ H sử dụng ma túy. Sau đ N lấy công cụ và cân ra chia phần ma túy để trong gi ra 16 tép nh và 01 tép lớn, N để 11 tép vào v hộp k o Doublemint đưa cho H cất giữ để bán, còn lại 05 tép nh và 01 tép lớn N cất giấu vào gi xách và bị Công an thành phố C b t quả tang.
Ngoài số ma túy bị b t quả tang, N trực tiếp bán ma túy cho Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1981, cư ngụ T x, Kh m x, Phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp 02 lần cụ thể như sau:
Lần 1: Vào khoảng 22 giờ ngày 17/6/2018, D dùng số điện thoại xxxx điện thoại cho N qua số xxxx h i mua 400.000 đồng ma túy đá, N đồng ý và h n địa điểm giao dịch tại ng 4 Tân Việt H, Phường x, thành phố C. ặp nhau, D đưa N 400.000 đồng và nhận lại phần ma túy đá không xác định khối lượng t N mang về nhà sử dụng hết.
Lần 2: Vào khoảng 16 giờ ngày 18/6/2018, D tiếp tục điện thoại cho N h i mua 400.000 đồng ma túy đá, N đồng ý và h n địa điểm giao dịch tại ng 4 Tân Việt H, Phường x, thành phố C. ặp nhau, D đưa N 400.000 đồng và nhận lại phần ma túy đá không xác định khối lượng t N mang về nhà sử dụng hết.
Phạm Văn H giúp sức cho Bùi Thị nh N bán ma túy cho Nguyễn Hoàng D và Lê Ngọc Bích T các lần sau:
Lần 1: Vào khoảng 23 giờ ngày 11/6/2018, D dùng số điện thoại xxxx điện thoại cho Phạm Văn H qua số xxxx h i mua 400.000 đồng ma túy đá và h n địa điểm giao dịch tại nhà D ở T x, Kh m x, Phường x, thành phố C, H đồng ý và lấy phần ma túy không xác định khối lượng N đưa trước đ đến giao cho D, nhận lại 400.000 đồng mang lại đưa cho N.
Lần 2: Vào khoảng 14 giờ ngày 13/6/2018, D dùng số điện thoại xxxx điện thoại cho Phạm Văn H qua số xxxx h i mua 400.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và h n địa điểm giao dịch tại phía trước nhà trọ A-139, T x, Kh m x, Phường x, thành phố C. D điều khiển xe mô tô đến điểm h n gặp H đưa 400.000 đồng và nhận lại phần ma túy không xác định khối lượng, D mang về nhà sử dụng hết. H đ đưa số tiền này lại cho N.
Lần 3: Vào khoảng 13 giờ, ngày giữa tháng 6/2018, Lê Ngọc Bích T đến nhà trọ A - 139 gặp Phạm Văn H h i mua 200.000 đồng ma túy đá, H đồng ý và lấy phần ma túy không xác định khối lượng N đưa trước đ giao cho T, nhận lại 200.000 đồng t T. Sau đ T mang phần ma túy này về nhà sử dụng hết. H đ đưa số tiền này lại cho N.
Lần 4: Vào khoảng 16 giờ cùng ngày lần 3, Lê Ngọc Bích T tiếp tục đến nhà trọ A -139 gặp H mua 400.000 đồng ma túy đá. Sau đ T mang phần ma túy này về nhà sử dụng hết. H đ đưa số tiền này lại cho N.
Lần 5: Vào khoảng 15 giờ ngày 18/6/2018, Lê Ngọc Bích T dùng số điện thoại xxxx điện thoại cho N số xxxx h i mua 1.200.000 đồng ma túy đá, N đồng ý và h n địa điểm giao dịch tại Phòng số x, nhà trọ C, địa chỉ Kh m x, Phường x, thành phố C. T đi xe ôm đến nơi nhìn vào cửa s gặp H n i đ điện thoại cho N rồi . T đưa cho H 1.200.000 đồng, H mang tiền lên gác đưa N và lấy phần ma túy không xác định khối lượng t N mang xuống đưa lại cho T.
Đối với 01 máng xúc tự chế bằng ống hút nhựa màu hồng; 01 bịch nylon màu tr ng c bốn mặt, hai mặt được hàn kín; 01 hộp bằng kim loại, hình chữ nhật, bên trong c chứa 01 cân điện tử mini; 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy gồm 01 bình nhựa bằng thủy tinh, phía trên c 02 lỗ tròn, một lỗ tròn g n với 01 n thủy tinh màu tr ng, một lỗ tròn g n với ống hút nhựa màu tr ng; 02 hột qu t; 01 bình gas mini hiệu Blufstar màu đen; 02 bịch nylon màu tr ng, hàn kín 03 mặt; 01 ống hút nhựa màu xanh tr ng, một đầu bằng một đầu được c t xéo; 01 ống hút nhựa màu tr ng, một đầu bằng một đầu được c t xéo; 03 cây kéo bằng kim loại màu tr ng; 02 cuộn băng keo màu tr ng; 03 mảnh nylon màu tr ng hình chữ nhật là các công cụ N dùng để chia ma túy để bán và sử dụng ma túy, không c giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo màu bạc tr ng c g n sim số x của N và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen - tr ng g n sim số xxxx của H là các công cụ liên lạc để mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Samsung màu tr ng và tiền Việt Nam 600.000 đồng là tài sản cá nhân của H, không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo H.
Đối với 01 xe môtô hiệu Click, biển số 66P1 - 018.78 là xe của Bùi Văn H (cha của N) cho N mượn sử dụng, ông H không biết N dùng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đ trả lại cho ông H vào ngày 13/10/2018.
Đối với 01 xe môtô hiệu inner màu xanh tr ng, biển số 65B1 - 85.330; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc tr ng là tài sản cá nhân của Mai Văn Lý N, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đ trả lại cho N những tài sản này vào ngày 22/6/2018 và 06/7/2018.
Trong quá trình điều tra bị cáo N, H th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đ nêu trên. Đến ngày 09/11/2018, bị cáo H không th a nhận hành vi giúp sức N mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai, h i cung bị cáo N; Lời khai Lê Ngọc Bích T; Lời khai Nguyễn Hoàng D; Biên bản nhận dạng; Biên bản đối chất và chính lời khai, h i cung bị cáo H đủ căn cứ chứng minh H đ nhiều lần thực hiện hành vi giúp sức N mua bán trái phép chất ma túy.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-ST ngày 15/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đ quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị nh N và Phạm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy .
1. p dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị nh N 10 năm tù.
2. p dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 08 năm tù.
Ngoài ra án còn tuyên về hình phạt b sung, về vật chứng và trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 27/02/2019 bị cáo Bùi Thị nh N kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 20/02/2019 bị cáo Phạm Văn H kháng cáo kêu oan. Nhưng đến ngày 29/4/2019 bị cáo H kháng cáo b sung với nội dung không kêu oan mà chuyển sang kháng cáo giảm nh một phần hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Thị Ánh N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N kháng cáo xin giảm hình phạt, bị cáo H kháng cáo kêu oan nhưng ngày 29/4/209 bị cáo H có đơn kháng cáo b sung với nội dung không kêu oan, mà chuyển sang kháng cáo giảm nh một phần hình phạt. Xét mức án 10 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đ xử phạt bị cáo N và mức án 08 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đ xử phạt bị cáo H là phù hợp. Các bị cáo N, H kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không cung cấp tình tiết mới, nên không c căn cứ xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Bùi Thị nh N và bị cáo Phạm Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thị nh N, Phạm Văn H th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử c đủ cơ sở khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2019/HS-ST ngày 15/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đ xét xử bị cáo Bùi Thị Ánh N phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Phạm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Các bị cáo là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trình độ học vấn 7/12 và 8/12. Các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, hành vi này còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn x hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện việc các bị cáo xem thường pháp luật. Do đ phải c mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đ gây ra nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và c tác dụng phòng ng a chung cho x hội.
Khi lượng hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm còn xem xét tình tiết bị cáo N đang nuôi con dưới 36 tháng tu i là tình tiết giảm nh được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo N. Xét thấy mức án 10 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N và mức án 08 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.
Bị cáo N, H kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không cung cấp tình tiết mới làm căn cứ giảm nh trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo N, bị cáo H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Bùi Thị nh N, bị cáo Phạm Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Bùi Thị nh N, bị cáo Phạm Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Thị nh N, Phạm Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy .
Căn cứ vào điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị nh N 10 (mười năm tù. Thời hạn tù được tính t ngày 24/9/2018.
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 08 (tám năm tù. Thời hạn tù được tính t ngày 20/6/2018.
Về án phí: Các bị cáo Bùi Thị nh N, Phạm Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ Đ-KT 1); - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - TAND – VKSND tp. C; - CCTHADS tp. C; - Cơ quan CSĐT Công an tp. C; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng ĐKTNV-THA; - Các bị cáo; - Lưu: VT, HS (Linh . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng |