vanban.org

Bản án 121/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M, sinh năm: 1967 Địa chỉ: 349, tổ 4, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đ. - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Đ
Bản án số: 121/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15/8/2019
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Diễn

Bà Nguyễn Thị Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Không tham gia.

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1561/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/7/2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2019 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M, sinh năm: 1967

Địa chỉ: 349, tổ 4, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1966

Địa chỉ: 349, tổ 4, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đ.

(Bà M, T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T chung sống như vợ chồng từ năm 1988, không làm thủ tục đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện. Thời gian chung sống giữa ông bà thường xuyên xãy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, hai bên đã tìm cách khắc phục nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Nay bà xác định tình cảm đã không còn, bà đề nghị được ly hôn với ông T và đề nghị vắng mặt tại Tòa án.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 08/01/1989 và Nguyễn Văn M, sinh ngày 01/4/1993. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Vũ Thị M về quan hệ hôn nhân. Ông đồng ý ly hôn với bà M, yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Văn Trường, sinh ngày 08/01/1989 và Nguyễn Văn Minh, sinh ngày 01/4/1993. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Vũ Thị M và bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà M và ông T

[2] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Các đương sự đều thừa nhận hôn nhân tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988 cho đến thời điểm hiện nay nhưng không đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, hai bên đã tìm cách khắc phục nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, nay cả hai xác định không còn tình cảm gì với nhau, không muốn hàn gắn tình cảm và đều có nguyện vọng ly hôn.

Bà M và ông T chung sống như vợ chồng từ năm 1988 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn; Thời điểm bà M và ông T bắt đầu chung sống là thời điểm Luật hôn nhân gia đình năm 1986 đang có hiệu lực thi hành, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định “Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý”. Theo quy định tại điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và mục 2 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp về việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trong khoảng thời gian từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm (01/01/2001- 01/01/2003); nếu họ đi đăng ký kết hôn trong thời hạn này thì quan hệ hôn nhân được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà M và ông T là không hợp pháp, pháp luật không công nhận bà M và ông T là vợ chồng.

Theo Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”. Vì vậy, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Vũ Thị M và ông Nguyễn Văn T

[3.2] Về con chung:

Bà M và ông T có 02 con chung là Nguyễn Văn Trường, sinh ngày 08/01/1989 và Nguyễn Văn Minh, sinh ngày 01/4/1993. Các con đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Bà M và ông T đều thống nhất khai tự thỏa thuận tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Vũ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và mục 2 thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 18/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp về việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M

Tuyên bố không công nhận bà Vũ Thị M và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng.

2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Vũ Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà M đã nộp, theo Biên lai thu số 0008727 ngày 05/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa được trừ vào tiền án phí bà M phải chịu.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ