- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2018/HSST Ngày: 22/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Tiên
2/ Ông Võ Văn Tốt
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Minh Ký – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại Nhà văn hóa lao động Quận 12. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2018/TLST-HS, ngày 18/4/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2018/HSST-QĐ ngày 26/7/2018, đối với bị cáo:
Hồ Công Th ; Sinh năm 1990; Nơi sinh: Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Thôn Hải C, xã Bình H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở: Không nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: không; Họ tên cha: Hồ Công C; Họ tên mẹ: Hồ Thị T (chết); Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Nguyễn Thị Ngọc L; Con: Chưa có.
- Tiền án:
+ Ngày 26/10/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 03 năm tù giam, về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2013.
+ Ngày 21/8/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 04 năm tù giam, về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm c, điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2017
- Tạm giam: Từ ngày 09/01/2018 - (có mặt).
*Người bị hại: Bà Nguyễn Thị D , 1958
Trú tại: A, khu phố 5, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh - (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 09/01/2018, Hồ Công Th đi vào Bệnh viện Quận 12. Sau đó, Th nằm ngủ tại khuôn viên của bệnh viện. Đến khoảng 01 giờ 00 cùng ngày, Hồ Công Th đi lên lầu 2 vào khu vực khoa nội của bệnh viện. Khi đến trước phòng số 8 thì Th thấy bà Nguyễn Thị D đang nằm ngủ trên giường trước khu vực phòng, đùi bên trái của bà D đè lên 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 1610. Lúc này, Th quan sát thấy xung quanh mọi người đều ngủ nên đi đến nơi bà D nằm ngủ dùng tay phải lấy trộm điện thoại nhưng không được vì sợ bà D thức dậy. Sau đó, Th đi đến chiếc giường cách giường của bà D khoảng 02 mét ngồi xuống và quan sát khoảng 01 phút, không thấy ai và lúc này bà D vẫn đang ngủ nên Th tiếp tục bước đến vị trí của bà D đang nằm ngủ, tay phải cầm lấy chiếc điện thoại từ từ rút ra khỏi đùi bà D . Sau khi lấy được điện thoại, Th vừa di chuyển về phía cầu thang để ra cổng và bỏ điện thoại vừa trộm được vào túi quần sau. Khi Th vừa xuống đến cổng Bệnh viện Quận 12 thì bị anh Đặng Thanh N cùng anh Dương Triều L là bảo vệ của Bệnh viện Quận 12 quan sát camera của bệnh viện phát hiện và hỏi Th về hành vi lấy trộm điện thoại của bà D thì Th thừa nhận đã lấy trộm điện thoại của bà D nên anh Nam và anh Lâm giữ Th lại, báo Công an phường Tân Chánh Hiệp lập hồ sơ xử lý.
Tại Cơ quan CSĐT Công an Quận 12, Hồ Công Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1610, kết quả định giá là 2.500.000 đồng (đã trả lại cho chủ sở hữu, bút lục số 71).
- 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 quần Jeans màu xanh, 02 chiếc dép nhựa màu đen (là trang phục Th mặc đi trộm cắp).
- 01 USB lưu giữ hình ảnh thể hiện Th trộm cắp điện thoại di động.
Bản cáo trạng số 98/CTr-VKS, ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Hồ Công Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Hồ Công Th khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là điện thoại di động hiệu Vivo 1610. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Hồ Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù; Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Th không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do lười lao động, cần có tiền tiêu xài, Hồ Công Th tìm kiếm người có tài sản sơ hở để trộm cắp, lợi dụng bà Nguyễn Thị D ngủ khi chăm sóc người nhà bệnh tại Bệnh viện Quận 12, Nguyễn Công Th lẻn vào rút trộm chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 1610 trong túi quần của bà D , trên đường tẩu thoát bị bảo vệ bệnh viện phát hiện giữ lại cùng tang vật. Hành vi nêu trên của Hồ Công Th đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Theo kết luâ ̣n định giá tài sản, chiếc điện thoại di động hiệu Vivo 1610, có giá trị 2.500.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Hồ Công Th có 02 tiền án về tội Cướp giật tài sản.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hành vi của Hồ Công Th đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Bị cáo đã được Nhà nước đưa đi cải tạo, giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không chịu sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội, chấp hành án xong không bao lâu lại phạm tội tiếp. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét.
Về vật chứng: quần Jeans, áo sơ mi, dép, USB không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hồ Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hồ Công Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2018.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tòch thu tieâu huûy:
- 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 quần Jeans màu xanh, 02 chiếc dép nhựa màu đen (là trang phục Th mặc đi trộm cắp).
- 01 USB lưu giữ hình ảnh thể hiện Th trộm cắp điện thoại di động
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 71/QĐ-VKS ngày 16/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (01) - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (01) - UBND nơi bị cáo cư trú; (02) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (01) - Lưu hồ sơ vụ án. T 20/. (05) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |