vanban.org

Bản án 121/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị Tuyết H được ly hôn với anh Hồ Thanh T.

Về con chung: Giao cháu Hồ Sĩ N, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2009 cho chị Phan Thị Tuyết H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu N, do chị H không yêu cầu. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị Tuyết H được ly hôn với anh Hồ Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2018
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH T GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.

Các Hội Thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Trần Trọng Quang.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 353/2018/TLST–HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Phan Thị Tuyết H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Hồ Thanh T, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp 5, xã P, huyện C, tỉnh T.

Chị H có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/7/2018, trong quá trình giải quyết vụ án, N đơn chị H trình bày: Chị với anh T chung sống vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân bất đồng ý kiến trong cuộc sống, anh T không quan tâm chăm sóc gia đình. Mặc dù chị đã khuyên can nhiều lần nhưng T vẫn không thay đổi nên từ đó mất dần tình cảm vợ chồng nên chị đã ly thân với anh T từ tháng 4 năm 2017 cho đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên chị khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Sĩ N, sinh ngày 13/8/2009. Chị yêu cầu được trược tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được H tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh T theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Chị H xác định sau thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như trên. Nay chị H xác định mâu thuẫn không thể giải quyết được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh T. Nhưng anh T là chồng mà không có biện pháp cụ thể nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng và cũng không có ý kiến gì để phản đối yêu cầu ly hôn của chị H.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H, anh T có một con chung tên Hồ Sĩ N, sinh ngày 13/8/2009, hiện do chị H nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu nuôi con của chị H thấy rằng: Cháu N do chị H nuôi dưỡng đã ổn định và cháu N có nguyện vọng sống chung với chị H khi cha mẹ ly hôn. Xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của cháu N, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần phải giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng.

Xét, chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu N nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định tài sản chung không yêu cầu và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 56, 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị Tuyết H được ly hôn với anh Hồ Thanh T.

2. Về con chung: Giao cháu Hồ Sĩ N, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2009 cho chị Phan Thị Tuyết H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu N, do chị H không yêu cầu.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phan Thị Tuyết H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng T tạm ứng án phí theo biên lai thu số 15827 ngày 27/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh T. Vậy chị H đã thi hành xong án phí.

4. Chị H, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh T

H PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện C;

- Thi hành án dân sự huyện C;

- Ủy ban nhân dân xã P, huyện Ca;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Công Vĩnh Đức

Cỡ chữ