vanban.org

Bản án 121/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thanh H về việc “yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con”.

Buộc anh Phan Vũ Huy Ng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Phan Nhã Phúc Nh, sinh ngày 09/11/2006 hàng tháng với số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/1 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/12/2018 cho đến khi cháu Nh đủ 18 tuổi. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thanh H - Phan Vũ Huy Ng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thanh H về việc “yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29/11/2018.
V/v: “yêu cầu thay đổi mức cấp
dưỡng nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quang Vinh

2. Bà Đỗ Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 29/11/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 637/2018/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2018 về việc “yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 05/11/2018 giữa các đương sự:

Ng đơn: Chị Tạ Thanh H, sinh năm 1980.

Trú tại: đường A, phường B, thành phố Đ, tỉnh L.

Bị đơn: Anh Phan Vũ Huy Ng, sinh năm 1979.

Trú tại: đường A, phường B, thành phố Đ, tỉnh L.

(Chị H có mặt, anh Ng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, Ng đơn chị Tạ Thanh H trình bày:

Chị và anh Phan Vũ Huy Ng đã ly hôn bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm 52/2009/HNGĐ - ST ngày 25/8/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Theo bản án chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Nhã Phúc Nh, sinh ngày 09/11/2006, anh Ng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 500.000đ/1 tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 9/2009 cho đến khi con thành niên. Tuy nhiên, hiện nay mức cấp dưỡng đó không còn đảm bảo hỗ trợ cho việc học hành, y tế và các sinh hoạt khác do giá cả sinh hoạt tăng nhanh, nhu cầu học hành của cháu càng nhiều, trong khi đó thu nhập hàng tháng của chị thấp chỉ 6.000.000đ/1 tháng. Vì vậy, để đảm bảo bảo cuộc sống cho con chung, chị yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung từ 500.000đ/1 tháng lên 2.000.000đ/1 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2018 cho đến khi con chung thành niên.

Bị đơn anh Phan Vũ Huy Ng đã được triệu tập hợp lệ tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Ng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con”giữa Ng đơn chị Tạ Thanh H và anh Phan Vũ Huy Ng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn Phan Vũ Huy Ng đã được triệu tập hợp lệ tại các lệ tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Ng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của chị H thấy rằng: Theo các tài liệu, chứng cứ chị H cung cấp thì hàng tháng chi phí cho cháu Phan Nhã Phúc Nh là con chung của chị và anh Ng 6.000.000đ/1 tháng, gồm: tiền học thêm, tiền trường 2.000.000đ/1 tháng, chi phí sinh hoạt, ăn uống hàng ngày là 4.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy rằng các chi phí như chị H trình bày là những chi phí cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của cháu Nh, hơn nữa cháu Nh càng ngày càng lớn, chi phí sinh hoạt ngày càng tăng nên mức cấp dưỡng 500.000đ/1 tháng không còn phù hợp với thực tế, anh Ng công tác tại Công ty cổ phần cấp thoát nước L, có mức thu nhập ổn định hàng tháng là 8.000.000đ nên mức cấp dưỡng chị H yêu cầu 2.000.000đ/1 tháng là phù hợp và có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: Anh Phan Vũ Huy Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 82, 107, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thanh H về việc “yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con”.

Buộc anh Phan Vũ Huy Ng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Phan Nhã Phúc Nh, sinh ngày 09/11/2006 hàng tháng với số tiền là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/1 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/12/2018 cho đến khi cháu Nh đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Về án phí: Anh Phan Vũ Huy Ng phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Tạ Thanh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm, anh Phan Vũ Huy Ng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ