vanban.org

Bản án 121/2017/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 13/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Cnh phủ quy định về “H , hụi, biêu, phường” Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị B đối với số tiền 40.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "h - h"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2017/DS-ST.
Ngày: 13-9-2017.
V/v “Tranh chấp nợ hụi”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hưng.

2. Ông Trần Hữu Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2017/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2017 về “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2017/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị B, sinh năm 1959. Địa chỉ: Khu phố A, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn M H, sinh năm 1972.

Ông Nguyễn Ng c C, sinh năm 1971. Yêu cầu giải quyết vắng mặt.

C ng địa chỉ: Khu phố A, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Bà B có mặt; bà H, ông C vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/5/2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lương Thị B trình bày:

Bà có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn M H làm chủ. Thời gian tham gia hụi đã lâu, bà tham gia rất nhiều phần khác nhau và có những phần đã hoàn thành giao dịch. Khi bà H tuyên bố vỡ hụi thì giữa hai bên có tiến hành đối chiếu, bà H xác nhận còn nợ bà số tiền tổng cộng là 26.540.000 đồng nhưng trong “Giấy thối vốn hụi” lập ngày 28/12/2016 do Cnh bà H viết chỉ ghi số tiền 26.500 đồng. Nay bà rút lại số tiền 40.000 đồng so với yêu cầu khởi kiện ban đầu, chỉ yêu cầu bà H và chồng là ông Nguyễn Ng c C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 26.500.000 đồng và bà không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.

Bị đơn bà H và ông C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà H và ông C đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến cũng như yêu cầu của ông bà.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của người tham gia tố tụng là đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quan điểm về giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với số tiền 40.000 đồng mà bà B rút lại yêu cầu khởi kiện và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Giữa bà Lương Thị B và bà Nguyễn M H có thỏa thuận về việc tham gia hụi với nhau, sau khi vỡ hụi hai bên phát sinh tranh chấp, do bà H và ông Nguyễn Ng c C c ng cư trú trên địa bàn thành phố Bến Tre nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết vụ kiện về “Tranh chấp nợ hụi” nêu trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa bà B tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể là rút lại số tiền 40.000 đồng so với yêu cầu khởi kiện ban đầu. Đây là sự tự nguyện của bà B nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà B khởi kiện tranh chấp nợ hụi, chứng cứ cho yêu cầu khởi kiện này là “Giấy thối vốn hụi”. Hội đồng xét xử xét thấy trong nội dung của “Giấy thối vốn hụi” bà H xác nhận “có thiếu thối vốn lại cho bà Lương Thị B số tiền 26.500.000 đồng” văn bản này do Cnh bà H viết và ký tên xác nhận nên có giá trị pháp lý, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ngày 23/5/2017, bà H có ký tên xác nhận vào biên bản giao nhận hồ sơ khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo do bà B giao nhưng bị đơn không có ý kiến tự khai, giải trình, phản bác hay yêu cầu gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy có căn cứ để xác định bà H còn nợ tiền hụi của bà B là 26.500.000 đồng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông C và bà H có Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường PK, TP BT, tỉnh Bến Tre cấp ngày 19/4/2002 nên là vợ chồng hợp pháp. Mặt khác, tại “Biên bản làm việc” ngày 23/3/2017 ông C thừa nhận có biết việc bà H nợ tiền vay và tiền hụi của nhiều người với số tiền lớn nhưng không rõ cụ thể bao nhiêu, vì là nợ chung của vợ chồng nên ông đồng ý c ng vợ trả các khoản nợ. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và buộc ông C phải có trách nhiệm liên đới với bà H để trả số tiền 26.500.000 đồng cho bà B.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà H và ông C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà B số tiền 26.500.000 đồng.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải nộp theo quy định của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 1.325.000 đồng.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo; thông báo về phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng qui định của bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà H và ông C đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa c ng giấy triệu tập để dự phiên tòa nhưng bà H vẫn vắng mặt. Tại “Biên bản làm việc” ngày 23/3/2017 ông C có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt do ông làm tài xế lái xe đường dài, thường xuyên không có mặt ở nhà. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Điều 471 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

- Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Cnh phủ quy định về “H , hụi, biêu, phường”

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị B đối với số tiền 40.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của bà Lương Thị B. Buộc bà Nguyễn M H và ông Nguyễn Ng c C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lương Thị B số tiền 26.500.000 (Hai mươi sáu triệu năm trăm ngàn) đồng.

Ghi nhận việc bà Lương Thị B không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bà Nguyễn M H và ông Nguyễn Ng c C phải liên đới nộp 1.325.000 (Một triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn) đồng.

Bà Lương Thị B được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 663.500 (Sáu trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010874 ngày 31/5/2017 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố BT.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ