vanban.org

Bản án 1206/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/09/2017 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Thanh H và bà Trần Thị V thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 04/5/1992 của Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương, Thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Nam Định) không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chun…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thanh H - Trần Thị V"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số:1206/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 13/9/2017
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thanh Minh

2. Ông Nguyễn Văn Lượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng Thanh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 13 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 514/2016/TLST-HN ngày 05 tháng 12 năm 2016 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 676/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Thanh H, sinh năm 1960

Địa chỉ: 19 Chương Dương, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1971

Địa chỉ: 2903S 6nd Philadelphia, PA 19142 USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 29/9/2016 và bản tự khai, nguyên đơn ông Vũ Thanh H trình bày:

Ông và bà Trần Thị V tự nguyện tìm hiểu kết hôn với nhau vào tháng 5 năm 1992, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương, Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc bình thường; không có mâu thuẫn gì lớn nhưng đến tháng 02 năm 2016 thì bà Vinh xuất cảnh sang Mỹ và ở lại luôn cho đến nay. Qua điện thoại liên lạc bà Vinh cho biết đã gặp được người hợp ý bên Mỹ và ở lại luôn với người đó chứ không về Việt Nam nữa. Ông nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa đôi bên không thể tiếp tục vì tình cảm vợ chồng không còn và cũng không còn tin tưởng nhau nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Về con chung: có 02 người con đã thành niên là Vũ Ngân Hà, sinh ngày 27/3/1994 và Vũ Gia Vương, sinh ngày 28/02/1998. Về tài sản chung: Đôi bên tự thỏa thuận giải quyết. Tại Bản tự khai ngày 18/4/2017 của bị đơn bà Trần Thị V được Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ chứng nhận ngày 09/6/2017 có nội dung như sau: Bà và ông Vũ Thanh H kết hôn với nhau vào năm 1992 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41 do UBND phường Trần Tế Xương, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định cấp. Cuộc sống chung giữa vợ chồng hạnh phúc bình thường cho đến đầu tháng 02/2016 bà xuất cảnh qua Mỹ và gặp được bạn, sau đó có phát sinh tình cảm. Tháng 8/2016, ông Hưng gọi điện thoại qua bảo bà về nhưng bà đã quyết định không về. Từ đó mâu thuẫn giữa vợ chồng phát sinh. Bà đã sống xa chồng từ tháng 02/2016 đến nay, bà không còn tình cảm với chồng nữa nên đồng ý ly hôn. Về con chung: bà và ông Hưng có 02 người con đã trưởng thành là Vũ Ngân Hà, sinh năm 1994 và Vũ Gia Vương, sinh năm 1998. Về tài sản chung: Đôi bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Vũ Thanh H, bị đơn bà Trần Thị V có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Nguyên đơn ông Vũ Thanh H đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; bị đơn bà Trần Thị V cư trú tại 2903S 6nd Philadelphia, PA 19142 USA; giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Vũ Thanh H, bị đơn bà Trần Thị V có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Ông Vũ Thanh H và bà Trần Thị V tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 04/5/1992 của Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương, Thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là Nam Định). Như vậy hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của cả đôi bên thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến tháng 02 năm 2016 bà Vinh xuất cảnh sang Hoa Kỳ; tại đây bà Vinh gặp bạn và giữa đôi bên phát sinh tình cảm dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần và phát sinh mâu thuẫn. Ông Hưng xác định tình cảm vợ chồng không còn có thể xây dựng đời sống chung hạnh phúc và có yêu cầu ly hôn. Ý kiến bà Trần Thị V cũng xác định không quay về sống chung với ông Hưng nữa và đồng ý ly hôn.

Xét, tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Như vậy, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Cả hai bên đều xác định mức độ mâu thuẫn không thể dung hoà được, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không muốn tiếp tục sống chung với nhau để xây dựng hôn nhân hạnh phúc. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Việc ông Hưng yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận

Về con chung: Đôi bên thống nhất khai có 02 người con chung là Vũ Ngân Hà, sinh ngày 27/3/1994 và Vũ Gia Vương, sinh ngày 28/02/1998. Xét, các người con đã thành niên muốn chọn ở với ai tùy ý.

Về tài sản chung: ông Hưng, bà Vinh tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 200.000 đồng nguyên đơn chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 469; Điều 474; Điều 477; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Thanh H và bà Trần Thị V thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 04/5/1992 của Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương, Thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Nam Định) không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: các người con chung là Vũ Ngân Hà, sinh ngày 27/3/1994 và Vũ Gia Vương, sinh ngày 28/02/1998 đã đủ tuổi thành niên. 3. Về tài sản chung: Đôi bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. 4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ông Vũ Thanh H nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 200.000 đồng ông Hưng đã nộp tại Biên lai thu số AA/2016/0031547 ngày 17/11/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông Hưng đã nộp đủ án phí. Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn ông Vũ Thanh H và bị đơn bà Trần Thị V; ông Vũ Thanh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, bà Trần Thị V được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ