- Tranh chấp gì? "Phạm Đức T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 18 (mười tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày T án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn §an Ph îng thµnh phè Hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè:120/2022/HS -ST Ngµy 30 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật.
Bà Nguyễn Thị Chiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị D - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2022/TLST - HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2022/HSST – QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Đức T, sinh năm 1978 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức V và bà Vũ Thị G; có vợ (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2000 (đã chết), nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; theo danh chỉ bản số 221 lập ngày 09/7/2022 của Công an huyện Đan Phượng; tạm giữ ngày 30/6/2022, tạm tha ngày 09/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phan Văn Q, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 561 đường P, phường X, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 75 đường P, phường P, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 23/5/2022, Phạm Đức T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ, biển kiểm soát 29U9 - 8563 đến nhà nghỉ Xanh có địa chỉ tại số 68, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội thuê phòng 301 và Ln phòng nghỉ. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/5/2022, T đem theo máy cắt kim loại cầm tay chạy bằng pin và điều khiển xe máy đến cửa hàng bán thiết bị điện Dũng D ở số 123 phố Tây Sơn, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội của chị Nguyễn Thị D (trú tại thôn 7, xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Nội) để trộm cắp tài sản. T để xe máy ở ngõ 127 phố Tây Sơn, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cách cửa hàng Dũng D khoảng 20 mét rồi đi bộ đến phía trước cửa hàng Dũng D dùng máy cắt cầm tay cắt khóa cửa và vào bên trong cửa hàng lấy một số tài sản gồm: 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x4mm2; 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x2,5mm2; 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x1,5mm2; 08 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x1mm2; 03 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x0,75mm2; 01 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x4mm2; 02 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x2,5mm2; 03 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x1,0mm2; 02 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x1,5mm2; 36 chiếc atomat đơn 16A-40A, hãng Panasonic; 17 chiếc atomat đôi 50A-60A, hãng Panasonic; 120 mặt công tắc điện sino 1,2,3 lỗ; 26 hạt ổ cắm điện một chiều, hãng Panasonic; 65 hạt công tắc điện, hãng Panasonic; 04 hạt đèn báo, hãng Panasonic; 05 hạt ổ ăng ten mạng, hãng Panasonic; 30 ổ cắm 3 lỗ, hãng Sino và 40 ổ cắm 2 lỗ +1 hạt và 2 hạt. Sau khi lấy được tài sản T cho các cuộn dây điện và các thiết bị điện vào 06 bao tải dứa và 01 túi nilong màu đen rồi đem ra vị trí để xe máy và lần lượt chở số tài sản trộm cắp được về nhà nghỉ Xanh cất giấu. Sau đó, T sử dụng số điện thoại 0928.888.662 gọi đến số điện thoại 0385.323.487 của ông Nguyễn Văn L là lái xe taxi Sông Nhuệ để thuê chở số tài sản trên đem đi bán. Ông L đồng ý và điều khiển xe taxi nhãn hiệu Hyundai Grand I10 màu bạc, BKS: 30E - 035.84 của hãng Taxi Sông Nhuệ đến thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, Hà Nội đợi T ra đón về nhà nghỉ Xanh và đưa các bao tải dứa, túi ni lông chứa đồ trộm cắp được Ln xe taxi. Sau đó T điều khiển xe máy đi trước, còn ông L điều khiển xe taxi đi phía sau đến cửa hàng kim khí Phan Q, địa chỉ tại số 561 đường Phúc Diễn, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi T gọi chủ cửa hàng là anh Phan Văn Q ra mở cửa để bán số tài sản vừa trộm cắp được. T vay Q số tiền 500.000 đồng để trả tiền cước taxi cho ông L rồi đem số dây điện, đồ điện vào cửa hàng Q bán được số tiền 16.300.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi bán được tiền T đi về Vĩnh Phúc và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 99 ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng kết luận:
- 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x4mm2
- 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x2,5mm2
- 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x1,5mm2
- 08 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x1mm2
- 03 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x0,75mm2
- 01 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x4mm2
- 2 -
- 02 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x2,5mm2
- 03 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x1,0mm2
- 02 cuộn dây điện Trần Phú loại 2x1,5mm2
( Mỗi cuộn đều có chiều dài là 100 mét chưa qua sử dụng)
- 36 chiếc atomat đơn 16A-40A, hãng Panasonic.
- 17 chiếc atomat đôi 50A-60A, hãng Panasonic.
- 120 mặt công tắc điện sino 1,2,3 lỗ.
- 26 hạt ổ cắm điện một chiều, hãng Panasonic.
- 65 hạt công tắc điện, hãng Panasonic.
- 04 hạt đèn báo, hãng Panasonic.
- 05 hạt ổ ăng ten mạng, hãng Panasonic.
- 30 ổ cắm 3 lỗ, hãng Sino.
- 40 ổ cắm 2 lỗ +1 hạt và 2 hạt.
(Tất cả chưa qua sử dụng)
Tổng trị giá là 37.259.500 đồng (Ba mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm đồng)
Bản cáo trạng số 111/CT- VKS - ĐP ngày 01/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức T đã khai nhận hành vi của mình như nội D bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Đức T đủ yếu tố cấu thành tội phạm như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pham Đức T từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 đến 48 tháng, do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không buộc bị cáo bồi thường cho bị hại và người liên quan; đề nghị xử lý vật chứng của vụ án, biện pháp tư pháp và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vụ án được khởi tố, truy tố và xét xử do các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội D các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Về nội D: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác được thu thập có
- 3 -
trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 24/5/2022, lợi dụng cửa hàng không có người trông nom. Phạm Đức T dùng kìm cắt khoá đột nhập vào cửa hàng bán thiết bị điện Dũng D tại địa chỉ số 123 phố Tây Sơn, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội của chị Nguyễn Thị D đã chiếm đoạt tài sản gồm 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1 x 4mm2; 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1x 2,5mm2; 04 cuộn dây điện Trần Phú loại 1 x 1,5mm2; 08 cuộn dây điện Trần Phú loại 1 x 1mm2; 03 cuộn dây điện Trần Phú loại 2 x 0,75mm2; 01 cuộn dây điện Trần Phú loại 2 x 4mm2; 02 cuộn dây điện Trần Phú loại 2 x 2,5mm2; 03 cuộn dây điện Trần Phú loại 2 x 1,0mm2; 02 cuộn dây điện Trần Phú loại 2 x 1,5mm2; 36 chiếc atomat đơn 16A - 40A, hãng Panasonic; 17 chiếc atomat đôi 50A
- 60A, hãng Panasonic; 120 mặt công tắc điện sino 1,2,3 lỗ; 26 hạt ổ cắm điện một chiều, hãng Panasonic; 65 hạt công tắc điện, hãng Panasonic; 04 hạt đèn báo, hãng Panasonic; 05 hạt ổ ăng ten mạng, hãng Panasonic; 30 ổ cắm 3 lỗ, hãng Sino và 40 ổ cắm 2 lỗ +1 hạt và 2 hạt với tổng giá trị tài sản là 37.259.500 đồng (Ba mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi chín nghìn, năm trăm đồng). Sau khi trộm cắp được số tài sản trên, Phạm Đức T đem đến của hàng của anh Phan Văn Q bán được 16.300.000 đồng. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị nêu trên của Phạm Đức T đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi và tính chất của vụ án mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi áp dụng hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, nên chỉ cần áp dụng mức hình phạt cho các bị cáo được cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ cải tạo bị cáo và dăn đe người khác.
. Đối với anh Phan Văn Q, khi mua số tài sản trên của Phạm Đức T, anh Q không biết nguồn gốc các tài sản đó là do T Trộm cắp được mà có nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Q khai nhận, sau khi mua số tài sản nêu trên của Phạm Đức T, đến trưa ngày 24/5/2022, anh Q đã bán một số cuộn dây điện và thiết bị điện cho một số khách hàng (không rõ đặc điểm nhân thân) được 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), các cuộn dây điện và thiết bị điện còn lại anh Q đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- 4 -
. Đối với ông Nguyễn Văn L, là lái xe taxi được Phạm Đức T thuê chở tài sản trộm cắp, ông L không biết các tài sản này là do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- Chị Nguyễn Thị D đã nhận lại một phần tài sản bị trộm cắp mà cơ quan điều tra đã thu giữ. Phạm Đức T đã bồi thường cho chị D bằng tiền đối với số tài sản T đã trộm cắp không thu hồi được. Chị D không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Chị D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về bồi thường thiệt hại.
- Đối với số tiền anh Phan Văn Q trả cho Phạm Đức T để mua số dây điện và thiết bị điện ngày 24/5/2022, anh Q không yêu cầu đề nghị gì về số tiền trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc kìm Phạm Đức T dùng cắt khoá cửa để trộm cắp tài sản, T khai sau khi trộm đã ném bỏ nên cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.
- Chiếc xe máy Honda Wave S, màu đỏ, biển kiểm soát 29U9 - 8563, T khai mua của một người không quen biết. Sau khi thực hiện trộm cắp ngày 24/5/2022, T đã bán cho một người không quen biết ở quán nước thuộc thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đối với 01 sim điện thoại di động số 0928.888.662 và 01 sim số 0978886727 (thu giữ của T). Xác định là số sim bị cáo liên lạc khi trộm cắp tài sản, nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 18 (mười tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày T án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Đức T cho UBND xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở Ln, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại di động số 0928.888.662 và 01 sim số 0978886727.
- 5 -
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2022 giữa Công an huyện Đan Phượng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng)
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày T án sơ thẩm; bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. N¬i nhËn:
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- TAND thµnh phè Hµ Néi;
ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa
- VKSND huyÖn §an Ph îng;
- C«ng an huyÖn §an Ph îng;
- THADS huyÖn §an Ph îng;
- BÞ c¸o;
- Bị hại;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
TrÇn Duy H ng
- L u hå s¬.
- 6 -
N¬i nhËn:
| - TAND thµnh phè Hµ Néi; - VKSND huyÖn §an Ph îng; - UBKT huyện ủy Đan Phượng; - C«ng an huyÖn §an Ph îng; - THADS huyÖn §an Ph îng; - Các bÞ c¸o; - L u hå s¬. - 7 - - 8 - | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa TrÇn Duy H ng |