vanban.org

Bản án 120/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 29/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Bình Y (tên gọi khác: Không), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 47, Mẫu M1+M2) có in dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh A và có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H1, Phan Thanh H2 bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa trong suốt có hai nắp màu xanh; 01 bình thủy ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bình Y (tên gọi khác: Không), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9-AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:120/2026/HS-ST
Ngày 29 tháng 6 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hân và bà Châu Ngọc Tiếp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Bình Y (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/5/1990 tại phường M, tỉnh An Giang; nơi thường trú: 68/14, tổ A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Tổ B, khóm T, phường L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội: Không; trình độ văn hóa: 2/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn L, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; anh chị em có 02 người, bị cáo là con thứ hai; vợ Đinh Thúy H, sinh năm 1990; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án: Ngày 22/9/2023 bị Tòa án nhân dân Quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 29/3/2024 chấp hành xong.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Các ngày 10/11/2025; ngày 15/01/2026; ngày 04/2/2026 và ngày 15/5/2026 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố bị can trong các vụ án “Trộm cắp tài sản” khác.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 06/01/2026 đến nay, hiện đang tạm giam Phân trại tạm giam khu vực L (nay là P trại tạm giam Chợ M – cơ sở 2), bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 05 tháng 01 năm 2026, nhận được tin tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân tại căn nhà tổ B, khóm T, phường L, tỉnh An Giang do Lê Bình Y đang thuê ở, nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm kiểm tra có mặt Lê Bình Y, qua kiểm tra lực lượng công an phát hiện tại góc trái trong phòng ngủ có 01 hộp nhựa màu trắng bên trong hộp nhựa có chứa: 01 hộp nhựa trong suốt có hai nắp gài màu xanh bên trong hộp nhựa có 01 gói nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi vấn ma túy; 01 bình thủy tinh có 02 hình trụ tròn trên nắp có gắn 01 ống hút màu đỏ; 01 chai nhựa màu xanh ở thân hình có quấn băng keo màu đen trên nắp chai có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng xanh, lỗ còn lại gắn 01 ống thủy tinh trong suốt uốn cong có đầu gù tròn, bên trong có đầu gù tròn có chứa chất tinh thể màu trắng nghi vấn ma túy; 01 bật lửa trong suốt bên trong có 02 hột xí ngầu màu xanh và màu vàng, bên trên có gắn 01 ống kim; 01 bật lửa màu vàng; 01 chai gas màu đen hiệu BLUESKY. Nên lực lượng công an lập biên bản thu giữ tang vật và mời Lê Bình Y về trụ sở Công an L2 làm việc. Tại Công an phường L đầu thú khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 01/01/2026, Lê Bình Y đến hẻm B, tổ A, khóm Đ, phường L gặp đứa bé khoảng 10 tuổi nhờ mua dùm 200.000 đồng ma túy đá, sau đó Lê Bình Y đem về nhà tổ B, khóm T, phường L lấy một phần đổ vào bình hút sử dụng một mình, phần ma túy còn lại Lê Bình Y cất giấu trong hộp nhựa trong suốt có hai nắp gài màu xanh để trong phòng ngủ mục đích để sử dụng, thì bị cơ quan công an phát hiện thu giữ như nội dung vụ án.

Kết luận giám định số 83/KL-KTHS ngày 12/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh A xác định: 01 túi giấy màu nâu (có mã số: PS 2007778) được niêm phong có dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường L2. Công an tỉnh A và các chữ ký ghi họ tên: Dương Thanh N, Phạm Minh T, Võ Thành L1, Lê Bình Y. Bên trong có: 01 ống thủy tinh trong suốt uốn cong có đầu gù tròn chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,0141g (ký hiệu M1); 01 gói nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng: 0,1688g (ký hiệu M2). Mẫu M1, M2 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ 47, Mẫu M+M2) có in dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh A và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H1, Phan Thanh H2 bên trong có chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa trong suốt có hai nắp gài màu xanh; 01 bình thủy tinh có hai hình trụ tròn trên nắp bình thủy có gắn 01 ống hút màu đỏ; 01 cái chai nhựa màu xanh ở thân mình có quấn băng keo màu đen trên nắp chai nhựa màu trắng có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng xanh; 02 bật lửa; 01 chai ga màu đen hiệu Bluskey.

Quá trình điều tra Lê Bình Y thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” để sử dụng như nội dung vụ án đã nêu.

Tại Cáo trạng số: 161/CT-VKSKV9 ngày 03/6/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- An Giang đã truy tố Lê Bình Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Bình Y khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bình Y từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 tháng.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 47, Mẫu M1+M2) có in dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh A và có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H1, Phan Thanh H2 bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa trong suốt có hai nắp màu xanh; 01 bình thủy tinh có hai hình trụ tròn trên nắp bình thủy tinh có gắn 01 ống hút màu đỏ; 01 cái chai nhựa màu xanh ở thân mình có quấn băng keo màu đen trên nắp chai nhựa màu trắng có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng xanh; 02 bật lửa; 01 chai ga màu đen hiệu BLUESKY.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không nghề nghiệp ổn định.

Bị cáo Lê Bình Y không có ý kiến tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Bình Y đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 05/01/2026 bị cáo Lê Bình Y đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1829 gam Methamphetamine là chất ma túy để sử dụng, bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Lê Bình Y đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, là nguyên nhân xảy ra nhiều loại tội phạm khác, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, bị cáo là người có nhân thân xấu, nhưng lại không lo tu dưỡng bản thân, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng bị cáo cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Với hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Lê Bình Y không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2025, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo Lê Bình Y về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Lê Bình Y không rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Dân sự tuyên bố tịch tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 47, Mẫu M1+M2) có in dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh A và có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H1, Phan Thanh H2 bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa trong suốt có hai nắp màu xanh; 01 bình thủy tinh có hai hình trụ tròn trên nắp bình thủy tinh có gắn 01 ống hút màu đỏ; 01 cái chai nhựa màu xanh ở thân mình có quấn băng keo màu đen trên nắp chai nhựa màu trắng có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng xanh; 02 bật lửa; 01 chai ga màu đen hiệu BLUESKY.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Bình Y (tên gọi khác: Không), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Bình Y 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/01/2026)

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 47, Mẫu M1+M2) có in dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh A và có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ H1, Phan Thanh H2 bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp nhựa trong suốt có hai nắp màu xanh; 01 bình thủy tinh có hai hình trụ tròn trên nắp bình thủy tinh có gắn 01 ống hút màu đỏ; 01 cái chai nhựa màu xanh ở thân mình có quấn băng keo màu đen trên nắp chai nhựa màu trắng có đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng xanh; 02 bật lửa; 01 chai ga màu đen hiệu BLUESKY.

(Đặc điểm theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/6/2026).

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Bình Y phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ