- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2025/HS-PT Ngày: 12/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Văn Hợp
Các Thẩm phán:
Ông Trương Công Thi
Bà Trần Thị Kim Liên
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Đỗ Xuân Ân, Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 465/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1 bị xét xử về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của các bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Low Boon L sinh ngày 27 tháng 11 năm 1991, tại Malaysia; nơi cư trú: L
T, G Gemencheh N, Malaysia; nơi tạm trú: Căn hộ A Chung cư T, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Malaysia; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Phật giáo; con ông Low Tin Y và bà Cheng Kue Y1; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ ngày 17/01/2020, chuyển tạm giam ngày
21/01/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn L1, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1996, tại tỉnh An Giang; nơi
cư trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn M và bà Ngô Thị Bích T; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ nhưng không đăng ký kết hôn, có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/3/2021, tạm giam tại Trại tạm giam Công an
tỉnh A, đến ngày 19/9/2022 chuyển đến tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Low Boon L: Luật sư Ngô Thanh T1 -
Văn phòng L19, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Số E C, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn L1: Luật sư Bùi Bá D -
Văn phòng L20, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Số D N, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
Người phiên dịch tiếng Trung: Bà Thái Nữ Bình A, sinh năm 1988. Địa chỉ:
Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2019 một nhóm đối tượng người Đài Loan do đối tượng có tên Du
Sheng T2 (thường gọi là “Ông chủ” hiện đang trú tại Malaysia) chủ mưu cầm đầu đã sử dụng phương thức, thủ đoạn: sử dụng thiết bị kỹ thuật số điện tử tạo App từ ứng dụng có tên và huy hiệu của “Bộ C2” chạy trên hệ điều hành Android. Sau đó, nhóm đối tượng giả danh cán bộ Công an, Viện kiểm sát và nhân viên Bưu chính, dùng phần mền điện thoại VoIP (phần mềm tạo số điện thoại không có thực để tạo số điện thoại giống số điện thoại của các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam) để gọi vào số máy cố định của những người bị hại Việt Nam thông báo nội dung không đúng sự thật là họ đang bị điều tra vì có liên quan đến hành vi rửa tiền của các đối tượng phạm tội. Để chứng minh mình không liên quan thì người bị hại phải mở tài khoản Ngân hàng mới và chuyển toàn bộ tiền từ tài khoản hiện có vào tài khoản này. Sau đó, đối tượng gửi App giả danh Bộ C2 có đường Link http://78.141.192.168/static/106831/protect10.apk người bị hại và yêu cầu người bị hại cài đặt vào máy điện thoại thông minh (smartphone) rồi nhập tất cả thông tin tài khoản Ngân hàng (mới mở) vào App do đối tượng cung cấp để đối tượng kiểm tra. Sau khi người bị hại thực hiện các nội dung mà đối tượng yêu cầu thì bị nhóm đối tượng chiếm quyền kiểm soát điện thoại (quản lý cuộc gọi, truy cập tệp tin, truy cập danh bạ, sử dụng App để gửi và nhận tin nhắn thay cho ứng dụng SMS), tài khoản (số tài khoản Ngân hàng, số dư, mật khẩu đăng nhập, số điện thoại đăng ký Internet Banking, mã OTP) đồng thời tự thao tác chuyển tiền từ tài khoản người bị hại vào các tài khoản Ngân hàng mà đối tượng thuê những đối tượng người Việt Nam mở nhằm chiếm đoạt mà người bị hại không biết.
Để thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, tháng 7/2019 đối tượng Du Sheng
Teacher yêu cầu các đối tượng Jackson L2, Low B, L21 đến Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam tìm người Việt Nam mở tài khoản Ngân hàng để thực hiện việc nhận và chuyển tiền mà nhóm đối tượng chiếm đoạt của những người bị hại Việt Nam. Tại đây, Low B, Lim Kean H cấu kết với các đối tượng gồm: Võ Thiên L3, Trần Văn P, Đỗ Thị Đ và Cao Ngọc N (có lý lịch nêu trên), còn Jackson L2 cấu kết với các đối tượng Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1 và Nguyễn Thị B, mở nhiều tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế, dùng số thuê bao điện thoại di động đăng ký dịch vụ Internet Banking rồi chuyển tất cả thông tin tài khoản Ngân hàng cho Du Sheng T2 ở tại Malaysia để Du Sheng Teacher điều hành đồng bọn là người Việt Nam tại Campuchia, Malaysia dùng ứng dụng VoIP gọi vào số máy cố định thông báo thông tin giả, lừa người bị hại cài và nhập tất cả thông tin tài khoản Ngân hàng V4 có tên “Bộ C2”, lúc này Du Sheng T2 và đồng bọn chiếm quyền kiểm soát tài khoản. Nhằm tránh sự phát hiện, xử lý sau khi chiếm quyền kiểm soát tài khoản, Du Sheng T2 chia nhỏ chuyển tiền của người bị hại đến nhiều tài khoản Ngân hàng do Low Boon L và J1 thuê người Việt Nam mở và quản lý (số điện thoại; số tài khoản) sau đó, tiếp tục chuyển đến tài khoản Ngân hàng của người Việt Nam do Du Sheng Teacher quản lý để Du Sheng Teacher rút chiếm đoạt tại Malaysia.
Quá trình điều tra với phương thức, thủ đoạn phạm tội như trên các đối tượng
đã chiếm đoạt của 22 người bị hại tại các tỉnh, thành phố trong cả nước với số tiền 19.940.271.200 đồng. Cụ thể như sau:
1. Hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (của 21 người bị hại).
- Tại tỉnh Quảng Nam đã xác định được 04 người bị hại bị chiếm đoạt số
tiền: 3.768.265.200 đồng. Cụ thể:
1. Bà Trần Hoàng Quỳnh T4 (sinh năm 1968; nơi cư trú: 3 N, phường S,
thành phố H, tỉnh Quảng Nam):
Ngày 02/01/2020, bà T4 nhận được cuộc gọi từ số 02353.914.422 (đến điện
thoại bàn của bà T4), một người phụ nữ tự xưng tên Nguyễn Thị L4 là nhân viên Bưu cục Q thông báo bà T4 có giấy báo nợ số tiền 36.866.000 đồng của Ngân hàng S4 - chi nhánh H16 đồng thời yêu cầu bà T4 trong vòng 02 giờ đồng hồ phải thanh toán nếu không sẽ bị phong tỏa mọi tài khoản và bị khởi kiện ra Tòa. Bà T4 cho rằng mình không có mở tài khoản và nợ tiền của Ngân hàng S4 - chi nhánh H16 thì bà T4 được đối tượng kết nối đến cuộc gọi của một người tự xưng là Đại úy Dương Minh H2 - Phòng Điều tra Bộ C2 thông báo rằng bà T4 mở và đã bán tài khoản V5 cho Nguyễn Thành P1 (hiện đã bị tạm giữ vì tội rửa tiền, số dư tài khoản hiện có 20 tỷ 160 triệu đồng) với giá 100.000.000 đồng và được hưởng 10% số tiền P1 phạm tội mà có. Bà T4 khẳng định mình không có liên quan thì đối tượng tiếp tục kết nối cuộc gọi cho bà T4 gặp đối tượng tự xưng là Trung tá Dương Thùy D1 - Phó Trưởng phòng phụ trách ban chuyên án 0318 - Bộ C2 (số điện thoại 0869.583.549). Để chứng minh mình không liên quan, theo yêu cầu của đối tượng D1, bà T4 đã đến Ngân hàng V6 - chi nhánh H17 mở tài khoản số 104871129655 và chuyển hết số tiền 965.209.000 đồng từ tài khoản số 230704070000142 - Ngân hàng H18 của bà T4 vào tài khoản V6 số 104871129655 (mới mở); mua 01 điện thoại Sam Sung A10S gắn sim số 0326674959 (đăng ký Internet Banking) cài App có tên “Bộ C2” từ đường link http://78.141.192.168/static/106831/protect10.apkđối tượng D1 gửi cho bà T4 để đối tượng kiểm tra đối chiếu. Đến sáng ngày 03/01/2020, bà T4 kiểm tra số dư của tài khoản V6 thì không còn. Qua sao kê giao dịch của bà T4 thể hiện các đối tượng đã chuyển tiền từ tài khoản V6 số 104871129655 đến các tài khoản sau:
Số tiền chuyển STT Số tài khoản Ngân hàng
Chủ tài khoản
Ghi chú
đến
04201014973447
Tài khoản Jackson 01
Nguyễn Thị Bích Tuyền 65.009.900 đồng
NH TMCP H
L mua và quản lý
10870969174
300.000.000
Tài khoản Jackson 02
Nguyễn Thị Trà My
Ngân hàng V
đồng
L mua và quản lý
106870486390
200.000.000
Tài khoản Jackson 03
HO NHAT TRUNG
Ngân hàng V
đồng
L mua và quản lý
19034235659010
400.049.500
Tài khoản Low 04
HA DUY KHANH
Ngân hàng T
đồng
Boon L quản lý
965.059.400
Tổng cộng
đồng
2. Bà Lê Thị Thúy H3 (sinh năm 1982; nơi cư trú: Số H T, phường A, thành
phố T, tỉnh Quảng Nam):
Ngày 03/01/2020, bà H3 nhận được cuộc điện thoại gọi đến máy điện thoại
bàn của bà H3 xưng tên L4 là nhân viên Bưu cục Q, thông báo bà H3 có giấy báo nợ số tiền 36.800.000 đồng của Ngân hàng V7 đồng thời yêu cầu bà H3 phải thanh toán nếu không sẽ bị phong tỏa mọi tài khoản và bị khởi kiện ra Tòa án. Bà H3 khẳng định mình không có mở tài khoản và nợ tiền thì đối tượng L4 cho số điện thoại đường dây nóng Bộ C2 +990692342593 để bà H3 gọi giải quyết vụ việc của bà H3. Bà H3 gọi vào số điện thoại +990692342593 thì gặp một người xưng tên P2 đang điều tra các vụ án mật của Bộ C2 thông báo bà H3 đã mở và bán tài khoản V7 cho đối tượng Nguyễn Thành P1 (hiện đã bị bắt giữ vì tội rửa tiền, và số dư tài khoản hiện có trên 20.000.000.000 đồng) với giá 100.000.000 đồng và được hưởng 10% số tiền P1 phạm tội mà có. Bà H3 tiếp tục khẳng định mình không có liên quan thì được kết nối điện thoại với một người tự xưng là C – cấp trên của P2 đang phụ trách điều tra vụ án có liên quan đến bà H3 và yêu cầu bà H3 làm theo hướng dẫn để chứng minh mình không liên quan. Theo yêu cầu của C, bà H3 mở tài khoản tại Ngân hàng M5 Chi nhánh tỉnh Q, số C, đăng ký Internet Banking và nộp vào tài khoản này số tiền 100.000.000 đồng để chứng minh vô tội đồng thời mua thêm 01 điện thoại Sam Sung A10S gắn sim số 0986916179 (có đăng ký Internet Banking) và cài đặt A1 có tên “Bộ C2” từ đường link http://78.141.192.168/static/106831/protect10.apk C gửi qua tin nhắn cho bà H3. Sau khi làm theo hướng dẫn, đến sáng ngày 06/01/2020 bà H3 kiểm tra số dư trong tài khoản M5, số tài khoản 3310120987003 thì phát hiện bị chiếm đoạt số tiền 99.000.000 đồng. Qua sao kê giao dịch của bà H3 thể hiện số tiền 99.000.000 đồng bị đối tượng chuyển từ tài khoản số 3310120987003 - Ngân hàng M5 - chi nhánh tỉnh Q đến tài khoản số 19035032501019 - Ngân hàng T26, chủ tài khoản: PHAM THI THIEN THU (tài khoản này J2 thông qua Võ Thiên L3 mua của Phạm Thị Thiên T5).
3. Bà Trần Thị Khánh T6 (sinh năm 1982, nơi cư trú: khối phố N, xã Đ, thị
xã Đ, tỉnh Quảng Nam):
Ngày 02/01/2020, bà T6 nhận cuộc điện thoại gọi đến máy điện thoại bàn
của bà T6, xưng tên là Nguyễn Văn T7 là nhân viên Bưu chính Quảng Nam thông báo việc bà T6 có giấy báo nợ thẻ tín dụng với số tiền 36.866.000 đồng của Ngân hàng của Ngân hàng S5 - chi nhánh H16 với trong vòng 02 giờ đồng hồ phải thanh toán nếu không sẽ bị phong tỏa mọi tài khoản và bị khởi kiện ra tòa. Đồng thời T7 kết nối điện thoại cho bà T6 gặp một đối tượng xưng tên là H4 - Cán bộ Phòng Điều tra Bộ C2, người này thông báo là bà T6 có mở 01 tài khoản V7 và đã bán cho Nguyễn Thành P1 (hiện đã bị tạm giữ vì tội rửa tiền và số dư hiện tại của tài khoản là 20 tỷ 160 triệu đồng) với giá 100.000.000 đồng và chi cho bà T6 10% số tiền P1 kiếm được. Bà T6 khẳng định mình không có liên quan thì đối tượng H4 yêu cầu bà T6 làm theo hướng dẫn của H4 là mở 01 tài khoản Ngân hàng V6 và nộp vào số tiền 2.000.000.000 đồng để chứng minh mình không phạm tội. Bà T6 làm theo yêu cầu của đối tượng H4 đến Ngân hàng V6 mở 01 tài khoản số 102871131044, đăng ký Internet Banking bằng số điện thoại 0905.397.180 của bà T6 và chuyển tiền 03 lần vào tài khoản số 102871131044 số tiền 1.977.477.000 đồng. Sau khi chuyển tiền, đối tượng H4 sử dụng số điện thoại 0917760142 nhắn tin
qua
số
0905.397.180
của
bà
T6
đường
link http://78.141.192.168/static/106831/protect10.apkyêu cầu bà T6 truy cập vào đường link trên để tải ứng dụng “Bộ C2” vào máy điện thoại di động. Đến ngày 09/01/2020, bà T6 kiểm tra số dư trong tài khoản số 102871131044 chỉ còn 577.500 đồng, số tiền bị chiếm đoạt là 1.977.000.000 đồng. Qua kiểm tra, sao kê giao dịch tài khoản của bà T6 thể hiện số tiền bị chiếm đoạt được chuyển đến các tài khoản:
Số tài khoản Ngân STT
Chủ tài khoản
Số tiền chuyển đến
Ghi chú
hàng
19034235659010
Tài khoản 01
NH T
HA DUY KHANH 200.000.000 đồng
Low Boon L quản
lý
102870250527
Tài khoản 02
Ngân hàng
HO THI TUYEN
150.000.000 đồng
Jackson L quản lý
V
19034165827018
Tài khoản
NGUYEN THI HUYEN 03
Ngân hàng
150.000.000 đồng
Jackson L quản lý
TRANG
T
1015247349
Tài khoản 04
Ngân hàng
LE THI BICH LIEU 150.000.000 đồng
Jackson L quản lý
SHB
107870972671
NGUYEN THI BICH
Tài khoản 05
299.000.000 đồng
NH V
TUYEN
Jackson L quản lý
100870969174
NGUYEN
THI
Tài khoản 06
328.000.000 đồng
NH V
TRA MY
Jackson L quản lý
19035320182017
Tài khoản
Ngân hàng T
Low Boon L mua 07
TRAN NHAT
150.000.000 đồng
giao cho How
(lớn) quản lý
106870486390
Tài khoản 08
HO NHAT TRUNG 200.000.000 đồng
Ngân hàng T
Jackson L quản lý
04001011964411
Tài khoản 09
VO NGOC HUYEN 230.000.000 đồng
NH H
Jackson L quản lý
1015308246
TRAN
THANH
Tài khoản 10
120.000.000 đồng
NH SHB
NGAN
Jackson L quản lý Tổng cộng:
1.977.000.000 đồng
4. Ông Thân Ngọc L5 (sinh năm 1968; nơi cư trú: khối phố C, phường Đ,
thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam):
Ngày 03/01/2020, ông L5 nhận cuộc điện thoại gọi đến máy điện thoại bàn
của ông L5 xưng tên Nguyễn Thị L4 là nhân viên Bưu cục Q thông báo việc ông L5 có giấy báo nợ số tiền 36.866.000 đồng của Ngân hàng S5 - chi nhánh H16 đồng thời yêu cầu ông L5 phải thanh toán nếu không sẽ bị phong tỏa mọi tài khoản và bị khởi kiện ra Tòa án. Khẳng định mình không có mở tài khoản và nợ tiền, ông L5 được đối tượng L4 cho ông L5 số điện thoại đường dây nóng Bộ C2 +990692342593 để ông L5 gọi giải quyết vụ việc. Ông L5 gọi vào số điện thoại +990692342593 thì gặp một người tự xưng là Thượng úy T8 đang điều tra các vụ án mật của Bộ C2 thông báo ông L5 mở và đã bán tài khoản V7 cho Nguyễn Thành P1 (hiện đã bị bắt giữ vì tội rửa tiền, và số dư tài khoản hiện có là 20.160.000.000 đồng) với giá 100.000.000 đồng và được hưởng 10% số tiền P1 phạm tội mà có. Khẳng định mình không có liên quan thì ông L5 được kết nối điện thoại với một người tự xưng là D1 - cấp trên của đối tượng T8 đang phụ trách điều tra vụ án “Rửa tiền” và yêu cầu ông L5 làm theo hướng dẫn để chứng minh mình không liên quan. Ông L5 làm theo yêu cầu của đối tượng D1, mở tài khoản số 108871140476 - Ngân hàng V6 - chi nhánh thành phố H17, đăng ký Internet Banking bằng số điện thoại của ông L5 và nộp vào tài khoản này số tiền 728.190.000 đồng và cài đặt Ứng dụng có tên “Bộ C2” từ đường link http://78.141.192.168/static/106831/protect10.apkDương gửi vào điện thoại di động của ông L5 để đối tượng kiểm tra. Đến ngày 09/01/2020, ông L5 kiểm tra số dư trong tài khoản số 108871140476 thì phát hiện đã bị chiếm đoạt số tiền 727.079.200 đồng. Qua kiểm tra, sao kê giao dịch tài khoản của ông L5 thể hiện số tiền bị chiếm đoạt được chuyển đến các tài khoản:
Số tiền chuyển STT Số tài khoản Ngân hàng Chủ tài khoản
Ghi chú
đến
04001011964411
VO
NGOC
Tài khoản Jackson 01
300.029.700 đồng
NH TMCP H
HUYEN
L quản lý 19035320182017
Tài khoản Low
Ngân hàng T
Boon L mua giao 02
TRAN NHAT 427.049.500 đồng
cho How (lớn)
quản lý Tổng cộng:
727.079.200 đồng
- Với phương thức, thủ đoạn như các bị hại ở tỉnh Quảng Nam, tại các tỉnh,
thành phố khác đã xác định được 15 người bị hại bị chiếm đoạt số tiền 10.124.138.100 đồng. Cụ thể:
1. Bà Lê Thị Thanh T9 (sinh năm 1974; thường trú tại: Tổ A, phường T,
thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) bị chiếm đoạt số tiền 693.049.500 đồng trong tài khoản số 109871124670 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản: Lê Thị Thanh T9. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản Ngân
Số tiền chuyển STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
hàng
đến
04001011964411
400.039.600
Tài khoản Jackson L 01
VO NGOC HUYEN
NH TMCP H
đồng
quản lý
19034235659010
93.009.900
Tài khoản Low Boon 02
HA DUY KHANH
NH T
đồng
L quản lý
106870486390
200.000.000
Tài khoản Jackson L 03
HO NHAT TRUNG
NH T
đồng
quản lý
Tổng cộng:
693.049.500
đồng
2. Bà Nguyễn Thị L6 (sinh năm 1968; thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh
Long An) bị chiếm đoạt số tiền 1.030.000.000 đồng, trong tài khoản 107871141370 (Ngân hàng V6 - Chủ tài khoản: Nguyễn Thị L6). Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền chuyển STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
đến
106870906259
TRAN DUY NAM 200.000.000
Tài khoản Jackson 01
NH V
đồng
L quản lý
447000000133
THU HO
829.089.100
Tài khoản Jackson 02
NH TMCP
đồng
L quản lý
CTVN
1015308246
TRAN THANH
Tài khoản Jackson 03
709.900 đồng
Ngân hàng SHB NGAN
L quản lý
104869686560
NGUYEN SI
Tài khoản Jackson 04
195.000 đồng
NH V
HIEN
L quản lý
1.030.000.000 Tổng cộng:
đồng
3. Bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1977; nơi cư trú: Số E P, Tổ B, phường T,
thành phố P, tỉnh Gia Lai) bị chiếm đoạt số tiền 532.000.00 đồng trong tài khoản số 62010000697289 - Ngân hàng TMCP Đ4, chủ tài khoản: Nguyễn Thị X. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền chuyển STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
đến
1015308246
Tài khoản
Trần Thanh
422.000.000 01
Ngân hàng SHB
Jackson L
Ngân
đồng
quản lý
19035320182017
110.000.000
Tài khoản 02
NH TMCP Kỹ
TRAN NHAT đồng
Jackson L
Thương VN
quản lý
532.000.000 Tổng cộng:
đồng
4. Bà Lâm Thị Kim T10 (sinh năm 1979; nơi cư trú: Số H, Khóm D, thị trấn
T, huyện T, tỉnh Trà Vinh) bị chiếm đoạt số tiền 800.000.000 đồng trong tài khoản số 070111507269 - Ngân hàng S6, chủ tài khoản: Lâm Thị Kim T10. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
chuyển đến
106870486390
Tài khoản
HO NHAT
200.000.000 01
Ngân hàng T
Jackson L quản
TRUNG
đồng
lý
1015247349
Tài khoản
Lê Thị Bích
600.000.000 02
NH TMCP Sài Gòn
Jackson L quản
Liễu
đồng
Hà Nội
lý
800.000.000 Tổng cộng:
đồng
5. Ông Lê Thanh T11 (sinh năm 1966; nơi cư trú: Số D P, Khóm A, thành
phố T, tỉnh Trà Vinh) bị chiếm đoạt số tiền 487.000.000 đồng trong tài khoản số 101868090968 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản: Lê Thanh T11). Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau: STT Số tài khoản
Số tiền
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
chuyển đến 01
100870969174
Tài khoản
Nguyễn Thị Trà 387.000.000
Ngân hàng V
Jackson L quản
My
đồng
lý 02
19034954027018
Tài khoản
100.000.000
NH T
Tô Văn Sinh
Jackson L quản
đồng
lý Tổng cộng:
487.000.000
đồng
6. Ông Sơn H5 (sinh năm 1967; nơi cư trú: Số H P, Khóm D, Phường A,
thành phố T, tỉnh Trà Vinh) bị chiếm đoạt số tiền 720.000.000 đồng trong tài khoản số 100871134737 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản: S). Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
chuyển đến
100870969174
Tài khoản
Nguyễn Thị Trà 500.000.000
01
Ngân hàng V
Jackson L quản
My
đồng
lý
19035032501019
Tài khoản
Phạm Thị Thiên 220.000.000
02
NH T
Jackson L quản
Thư
đồng
lý
720.000.000 Tổng cộng:
đồng
7. Ông Nguyễn Công T12 (sinh năm 1967; nơi cư trú: Số B, Tổ A, ấp T, xã
Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh) bị chiếm đoạt số tiền 54.000.000 đồng trong tài khoản số 070008046598 - Ngân hàng S6, chủ tài khoản: Nguyễn Công T12. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản 031364530001 - Ngân hàng L22, chủ tài khoản: NGUYEN NGOC GIAU (Tài khoản do Jackson L2 mua và quản lý).
8. Ông Phan Duy K (sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp A, xã T, thành phố Đ,
tỉnh Bình Phước) bị chiếm đoạt số tiền 61.009.900 đồng trong tài khoản số 106004448081 - Ngân hàng TMCP C3, chủ tài khoản: Phan Duy K. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản số: 19034235510017 - Ngân hàng TMCP K6, chủ tài khoản: Đậu Ngọc N2 (Tài khoản do Jackson L2 mua và quản lý).
9. Bà Nguyễn Thị T13 (sinh năm 1971; nơi cư trú:1 N, phường P, thành phố
P, tỉnh Bình Thuận): bị chiếm đoạt số tiền 1.484.079.200 đồng trong tài khoản số 106871139749 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản: Nguyễn Thị T13. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền chuyển STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
đến
04001011964411
300.029.700
Tài khoản
VO NGOC
01
NH TMCP H
đồng
Jackson L quản
HUYEN
lý
100869408872
Tài khoản
NGUYEN
250.000.000 02
NH T
Jackson L quản
CONG LUAN
đồng
lý
19035306115013
Tài khoản
PHAM THU
200.019.800 03
NH TMCP Kỹ
Jackson L quản
UYEN
đồng
Thương VN
lý
19035320182017
Tài khoản Low
134.019.800
NH TMCP Kỹ
Boon L mua 04
TRAN NHAT
đồng
Thương VN
giao cho How
(lớn) quản lý
030063498226
Tài khoản
100.009.900 05
NH TMCP Sài Gòn BUI THI HOA
Jackson L quản
đồng
Thương Tín
lý
100870969174
Tài khoản
Nguyễn Thị Trà
500.000.000 06
Ngân hàng V
Jackson L quản
My
đồng
lý
1.484.079.200 Tổng cộng:
đồng
10. Bà Nguyễn Thị Thu H6 (sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố E, Phường
A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh) bị chiếm đoạt số tiền 712.000.000 đồng trong tài khoản số 19035324368018 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản Nguyễn Thị Thu H6. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản số 1015262269 - Ngân hàng thương mại cổ phần S7, chủ tài khoản Nguyễn Thị Trà M1 (tài khoản do Jackson L2 mua và quản lý).
11. Bà Nguyễn Thị Tuyết T14 (sinh năm 1963; nơi cư trú: Số D P, phường
Q, quận Đ, Thành phố Hà Nội) bị chiếm đoạt số tiền 3.200.000.000 đồng trong tài khoản số 172010301000122 - Ngân hàng E, chủ tài khoản Nguyễn Thị Tuyết T14 và tài khoản số 0030127241003 - Ngân hàng M6, chủ tài khoản: Nguyễn Thị Tuyết T14. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
chuyển đến
1050108933004
Tài khoản Jackson 01
Ngân hàng MB
Trương Minh
L quản lý
2.700.000.000
19034052541010
Trí 02
đồng
NH T
19034201560015
Phạm Ngọc
500.000.000
Tài khoản Jackson 03
NH T
Lợi
đồng
L quản lý
3.200.000.000 Tổng cộng:
đồng
12. Bà Nguyễn Thị Thu H7 (sinh năm 1979; nơi cư trú: Số D L, P, thành
phố P, tỉnh Bình Thuận) bị chiếm đoạt số tiền 61.000.000 đồng trong tài khoản số 050115120104 - Ngân hàng S6, chủ tài khoản Nguyễn Thị Thu H7. Sau khi chiếm đoạt đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản số 19035320182017 - Ngân hàng T26, chủ tài khoản TRAN NHAT (tài khoản L18 mua giao cho How lớn quản lý).
13. Bà Lê Phương V (sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu D, thị trấn T, huyện
N, tỉnh Ninh Thuận) bị chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng trong tài khoản số 0811000056051 - Ngân hàng S6, chủ tài khoản Lê Phương V. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản số 19035306115013- Ngân hàng T26, chủ tài khoản PHAM THU UYEN (tài khoản do Jackson L2 mua và quản lý).
14. Bà Đinh Thị Thanh L7 (sinh năm 1970; nơi cư trú: Số A L, Phường D,
thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) bị chiếm đoạt số tiền 140.000.000 đồng trong tài khoản số 0811000056051 - Ngân hàng S6, chủ tài khoản Lê Phương V. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
chuyển đến
1015308246
Tài khoản
TRAN THANH 40.000.000
01
Ngân hàng TMCP
Jackson L
NGAN
đồng
Sài Gòn Hà Nội
quản lý
04001011964411
Tài khoản
VO NGỌC
100.000.000 02
NH TMCP H
Jackson L
HUYEN
đồng
quản lý
140.000.000 Tổng cộng:
đồng
15. Bà Ngô Thị Thu T15 (sinh năm 1984; nơi cư trú: Khối phố P, phường
T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước) bị chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng trong tài khoản số 105004481719 - Ngân hàng TMCP C3, chủ tài khoản Ngô Thị Thu T15. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản số: 19035032501019 – Ngân hàng TMCP K6, chủ tài khoản: PHAM THI THIEN THU (tài khoản do Jackson L2 mua và quản lý).
- Tại thành phố C, tỉnh An Giang đã xác định được 01 bị hại bị chiếm đoạt
số tiền 1.999.000.000 đồng. Cụ thể:
Bà Trần Thị N3 (sinh năm 1966; nơi cư trú: Số A L, khóm C, phường C,
thành phố C, tỉnh An Giang) bị chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng trong tài khoản số 1550610102000131 - Ngân hàng E, chủ tài khoản Trần Thị N3. Sau đó, đối tượng chuyển đến tài khoản số 19035209629010 - Ngân hàng T26, chủ tài khoản Trần Thanh N4 rồi tiếp tục chuyển đến các tài khoản sau:
Số tài khoản
Số tiền STT
Chủ tài khoản
Ghi chú
Ngân hàng
chuyển đến
1015262269
Tài khoản
Nguyễn Thị
1.000.000.000 01
NH TMCP Sài Gòn
Jackson L
Trà My
đồng
Hà Nội
quản lý
1015247349
Tài khoản
Lê Thị Bích
999.000.000 02
NH TMCP Sài Gòn
Jackson L
Liễu
đồng
Hà Nội
quản lý
1.999.000.000 Tổng cộng:
đồng
Sau đó, số tiền 1.000.000.000 đồng trong tài khoản Nguyễn Thị Trà M1 được
chuyển đến tài khoản số 3242430901 - Ngân hàng T27, chủ tài khoản Lê Thị Bích L8 số tiền 997.500.000 đồng; số tiền 999.000.000 đồng trong tài khoản Lê Thị Bích L8 được chuyển đến tài khoản số 3216398701- Ngân hàng T27, chủ tài khoản Tô Nhựt V1. Tiếp tục, số tiền 998.000.000 đồng trong tài khoản của Lê Thị Bích L8 và số tiền 999.500.000 đồng trong tài khoản số 3216398701- Ngân hàng T27 của Tô Nhựt V1, tất cả được chuyển đến tài khoản số 19035156128014 - Ngân hàng T26 của Tô Nhựt V1 rồi chuyển đến tài khoản số 1005968 - Ngân hàng TMCP Á (A5) của Lê Thị Bích L8. Tiếp tục số tiền 1.998.000.000 đồng trong tài khoản số 1005968 - Ngân hàng TMCP Á (A5) của Lê Thị Bích L8 lại được chuyển đến tài khoản số 19028457817021, chủ tài khoản Vũ Quang V2 (sinh năm 1991, nơi cư trú: 100, đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Vũ Quang V2 khai nhận: Chuyên kinh doanh, mua bán tiền Bitcoin trên
mạng, ngày 30/12/2019, qua giao dịch mua bán trên mạng, V2 được tài khoản tên Lê Thị Bích L8 chuyển trả 1.998.000.000 đồng vào tài khoản để mua Bitcoin. Sau đó, V2 dùng số tiền này chuyển trả tiền mua Bitcoin cho các tài khoản khác vào ngày 30/12/2019, gồm:
+ Tài khoản số 19034115616024, chủ tài khoản Hoàng Thị Kim N5 (nơi cư
trú: Tổ E, phường H, xã P, tỉnh Vĩnh Phúc), nhận số tiền 595.350.000 đồng.
+ Tài khoản số 19034289310013, chủ tài khoản Ngô Hoàng N6 (nơi cư trú:
ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh), nhận số tiền 6.150.000 đồng.
+ Tài khoản số 19034195479014, chủ tài khoản Tống Thị H8 (nơi cư trú:
xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình), nhận số tiền 33.520.000 đồng.
+ Tài khoản số 19029402925018, chủ tài khoản Tống Đăng S (nơi cư trú:
Tổ B, phường C, C, tỉnh Quảng Ninh), nhận số tiền 232.100.000 đồng.
+ Tài khoản số 19032702826012, chủ tài khoản Trần Mạnh Đ1 (nơi cư trú:
phường X, Đ, tỉnh Quảng Ninh), nhận số tiền 276.780.000 đồng.
+ Tài khoản số 19033556223013, chủ tài khoản Đặng Xuân T16 (nơi cư
trú: xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An), nhận số tiền 4.480.438 đồng.
+ Tài khoản số 19032929188012, chủ tài khoản Trần Thế A2 (nơi cư trú:
xã N, huyện N, tỉnh Nam Định), nhận số tiền 5.331.921 đồng.
+ Tài khoản số 19032492836011, chủ tài khoản Phạm Văn T17 (nơi cư trú:
xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương), nhận số tiền 31.050.000 đồng.
+ Tài khoản số 19028955571021, chủ tài khoản Nguyễn Văn K1 (nơi cư
trú: xã A, huyện K, tỉnh Hải Dương), nhận số tiền 15.471.629 đồng.
+ Tài khoản số 19033844850014, chủ tài khoản Phan Thị Thùy D2 (nơi cư
trú: Số A, xã V, huyện B, tỉnh Bến Tre), nhận số tiền 38.061.825 đồng.
Các chủ tài khoản trên đều khai nhận đây là tiền mua bán Bitcoin trên mạng,
khi giao dịch, không gặp người mua và bán trực tiếp, không gọi điện thoại mà chỉ giao dịch bằng tin nhắn trên khung chát giao diện, không biết số tiền mua Bitcoin là tiền do phạm tội mà có.
Ngày 15/7/2020, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh A đã khởi tố bị cáo đối với
Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Hữu H1; ngày 25/01/2021 khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Văn L1 về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự để điều tra. Đến ngày 17/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh A chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q để nhập án và điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
- Tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xác định được 01 bị hại bị chiếm đoạt số
tiền 99.000.000 đồng. Cụ thể:
Ông Vưu Long V3 (sinh năm 1962; thường trú: Phường H, thành phố B,
tỉnh Bạc Liêu) bị chiếm đoạt số tiền 99.000.000 đồng trong tài khoản số 101871106082 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản Vưu Long V3. Sau đó, đối tượng chuyển số tiền này đến tài khoản số 04201014973447 - Ngân hàng H19, chủ tài khoản Nguyễn Thị Bích T3, rồi tiếp tục chuyển đến tài khoản số 1015262269 - Ngân hàng S8, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Trà M1 và tiếp tục chuyển đến tài khoản số 03216398701 - Ngân hàng TMCP T27, chủ tài khoản là Tô Nhựt V1.
Ngày 25/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định khởi
tố vụ án hình sự về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự để điều tra. Ngày 20/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 04/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q để nhập án điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại huyện C, tỉnh Tây Ninh xác định
được 01 bị hại bị chiếm đoạt số tiền 3.950.000.000 đồng. Cụ thể:
Bà Lê Thị T18 (sinh năm 1958; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây
Ninh) nhận được cuộc gọi của đối tượng tự xưng tên Nguyễn Văn T7 nhân viên Bưu điện gọi đến thông báo với bà T18 là có điện mật do Bộ C2 gửi có nội dung là bà T18 tham gia mở tài khoản Ngân hàng phục vụ việc phạm tội “Rửa tiền” với số tiền rất lớn. Khẳng định mình không liên quan thì đối tượng T7 chuyển máy để bà T18 gặp đối tượng xưng tên H2 là thanh tra Bộ C2 khẳng định bà T18 có liên quan đến đường dây tội phạm, nếu bà T18 không hợp tác điều tra sẽ tiến hành phong tỏa tất cả tài khoản Ngân hàng của bà T18. Liền sau đó, có đối tượng điện thoại cho bà T18 xưng là Lâm Thành Đ2 là thanh tra Bộ C2 đã đứng ra bảo lãnh cho T18 nên bị đình chỉ công tác. Bà T18 khẳng định không vi phạm pháp luật thì đối tượng Đ2 yêu cầu bà T18 chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng của 04 thanh tra Bộ C2 để kiểm tra, nếu không liên quan sẽ trả lại cho bà T18 và sẽ được khen thưởng. Để chứng minh mình không vi phạm pháp luật nên từ ngày 20/12/2019 đến 07/01/2020, bà T18 đã trực tiếp đến Ngân hàng chuyển tiền 06 lần vào 05 tài khoản do các đối tượng cung cấp, cụ thể:
Ngày, tháng,
Số tài khoản
Chủ tài
Số tiền chuyển STT
năm
Ghi chú
Ngân hàng
khoản
đến
20/12/2019
19035219089014
Chưa xác 01
và
Ngân hàng T
Dương
1.950.000.000 định được
23/12/2019
Tuấn Anh
đồng
đối tượng
25/12/2019
04201014973447 Nguyễn
Tài khoản
500.000.000 02
NH Maritime
Thị Bích
Jackson L
đồng
Tuyền
quản lý
27/12/2019
100870969174
Tài khoản
Nguyễn
200.000.000 03
NH V
Jackson L
Thị Trà My đồng
quản lý
03/01/2020
1015308246
Tài khoản
Trần Thanh 500.000.000 04
NH- SHB
Jackson L
Ngân
đồng
quản lý
07/01/2020
1015262269
Tài khoản
Nguyễn
800.000.000
NH- SHB
Jackson L 05
Thị Trà My đồng
quản lý
3.950.000.000 Tổng cộng:
đồng
Sau đó, các đối tượng tiếp tục chuyển tiền qua lại giữa các tài khoản đứng
tên của 03 bị cáo Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Văn L1 và nhiều đối tượng khác rồi rút ra chiếm đoạt.
Ngày 03/02/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T ra Quyết định khởi tố vụ
án hình sự, khởi tố bị cáo đối với: Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Thị Trà M1 và Nguyễn Văn L1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngày 08/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q để nhập án điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Kết quả điều tra đã xác định hành vi phạm tội của từng đối tượng, cụ thể như
sau:
1. Hành vi phạm tội của Low Boon L, Lim K và các đối tượng Võ Thiên L3,
Trần Văn P, Đỗ Thị Đ và Cao Ngọc N:
- Hành vi của Low Boon L: Theo yêu cầu của Du Sheng T2, tháng 10/2019
Low B1 L cùng với Jackson L2 cùng đến Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam để tìm người Việt Nam mở tài khoản (thẻ ATM) thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện nhận và chuyển tiền chiếm đoạt của người bị hại Việt Nam. Jackson L2 và Low Boon L đã thuê căn hộ tại chung cư S B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để ở được khoảng 03 tuần thì giữa Jackson L2 và L18 xảy ra mâu thuẫn nên không ở chung với nhau nữa.
Thời gian này, Low Boon L gặp Võ Thiên L3 (có quen biết với Low B1 L
trước đó), được L3 giúp đỡ về chi phí sinh hoạt, ăn, ở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, đối tượng có tên là H (thường gọi là “How lớn”) cùng nhóm với Du S1 Teacher điện thoại yêu cầu Low Boon L tìm người Việt Nam mở tài khoản Ngân hàng để thực hiện việc nhận và chuyển tiền chiếm đoạt của người bị hại Việt Nam, Low Boon L được hưởng 3%/số tiền được chuyển đến các tài khoản Ngân hàng mà Low B1 L thuê người Việt Nam mở và quản lý. Sau đó, H lớn đưa Low Boon L, Đặng Văn L9 (là người làm việc cho H lớn) và Võ Thiên L3 sang Campuchia gặp Du Sheng T2 và đối tượng Lim Kean H (là người trực tiếp thực hiện việc nhận và chuyển tiền cho Du Sheng T2) để trao đổi việc nhận và chuyển tiền cho Du Sheng T2. Du Sheng T2 giao cho Low B1 L quản lý tài khoản Ngân hàng có tên HA DUY KHANH. Khi Du Sheng T2 thông báo có tiền chuyển đến tài khoản của HA DUY KHANH thì ngay sau đó L18 phải chuyển số tiền này đến các tài khoản Ngân hàng do Low Boon L thuê người Việt Nam mở và quản lý rồi yêu cầu Võ Thiên L3, Trần Văn P đến Ngân hàng rút tiền mặt về giao cho H lớn, How lớn chuyển trực tiếp cho L21 và Lim K mang số tiền này đến Ngân hàng S6 (tại Thành phố Hồ Chí Minh) chuyển vào tài khoản mà Du Sheng Teacher quản lý để Du Sheng T2 rút tại Malaysia.
Sau khi trao đổi, thỏa thuận với Du Sheng T2, H lớn, Lim K, Low B, Võ
Thiên L3 và Đỗ Thị Đ (người Low Boon L quen biết tại Campuchia) quay về Thành phố Hồ Chí Minh, thuê căn hộ chung cư T B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh ở, còn Lim Kean How ở riêng nơi khác (không nhớ địa chỉ cụ thể) để thực hiện hành vi phạm tội. Tại đây, Low B đã yêu cầu Đỗ Thị Đ mở 03 tài khoản Ngân hàng; thuê Cao Ngọc N (bạn của Đ) mở 04 tài khoản thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng S6, T26, V8, M5 và sử dụng số thuê bao điện thoại di động do L18 đưa để đăng ký dịch vụ Internet Banking với giá 200 USD/01 tài khoản. Đồng thời thông qua Võ Thiên L3, Trần Văn P để thuê Phạm Thiên T5, Trương Kim Đ3, Trần Chí H9, Trần Nhất M2 24 tài khoản Ngân hàng T28 (Phạm Thiên T5: 08 tài khoản; Nguyễn Ngọc M3: 06 tài khoản; Trương Kim Đ3: 06 tài khoản; Trần N7: 02 tài khoản; Trần Văn P: 01 tài khoản; Võ Thiên L3: 01 tài khoản) tại các Ngân hàng S6, T26, V8, M5, H20, V6, M7 sử dụng số thuê bao điện thoại di động để đăng ký dịch vụ Internet Banking, với giá 300 USD/01 tài khoản.
Sau khi mở tài khoản các đối tượng giao cho L18 quản lý, thay đổi mật khẩu
đăng nhập để sử dụng nhận tiền cho Du Sheng T2 tại Việt Nam và Campuchia (do hộ chiếu của Low Boon L chỉ có hiệu lực tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày nên Low Boon L và Đỗ Thị Đ phải đi qua lại giữa Việt Nam và Campuchia). Ngay sau khi có tiền chuyển vào tài khoản HA DUY KHANH thì Du Sheng Teacher hoặc How lớn thông báo cho L18 biết là tiền đã vào tài khoản. Ngay sau đó, Low B1 L chuyển số tiền từ tài khoản của HA DUY KHANH đến tài khoản số 4536180065610817 - Ngân hàng S8 của Ha Tuan T19 (chưa xác định được đối tượng), tài khoản số 4987696811012917 - Ngân hàng H20 của Tran Chi H10, tài khoản số 4026490001645436 - Ngân hàng V6 của Tran N8 (do H lớn quản lý) và tài khoản số 221498664768059 - Ngân hàng T26 của Đỗ Thị Đ rồi yêu cầu Võ Thiên L3, Trần Văn P đến Ngân hàng rút tiền mặt về giao Low B để Low Boon L giao cho H lớn và H lớn giao trực tiếp cho L21. L21 tiếp tục mang số tiền này đến các chi nhánh Ngân hàng S6 tại Thành phố Hồ Chí Minh chuyển vào số tài khoản Ngân hàng S6 (do Du Sheng T2 giao cho L21 sử dụng trước đó) để Du Sheng Teacher rút chiếm đoạt tại Malaysia. Mọi chi phí đi lại từ Campuchia về Việt Nam và ngược lại, thuê nhà ở, sinh hoạt ăn uống và chi tiêu cá nhân của L18 cùng các đối tượng do Du Sheng T2 chi trả từ nguồn tiền chiếm đoạt của người bị hại chuyển đến tài khoản do L18 quản lý (Low Boon L trích ra một phần để chi phí). L18 thực hiện hành vi nhận và chuyển tiền cho Du Sheng T2 đã hưởng lợi số tiền khoảng 100.000.000 (3%/trên tổng số tiền đã nhận và chuyển).
Ngoài ra, L18 còn yêu cầu Trần Văn P tìm mua, thu thập (tại G) thông tin cá
nhân người dùng tài khoản Ngân hàng của những người có độ tuổi từ 40 đến 70 tuổi có đầy đủ thông tin về họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, số điện thoại, số CMND và tài khoản Ngân hàng bán cho Low B1 L để chuyển cho Du Sheng Teacher ở tại Malaysia để Du Sheng Teacher điều hành đồng bọn là người Việt Nam tại Campuchia, Malaysia thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người bị hại. Tuy nhiên, chưa thực hiện được thì đã bị bắt.
Kết quả điều tra xác định: Tổng số tiền Du Sheng T2 và đồng bọn chiếm
đoạt của 07 người bị hại là: 1.575.128.700 đồng (gồm: Trần Hoàng Quỳnh T4: 400.049.500 đồng; Trần Thị Khánh T6: 350.000.000 đồng; Thân Ngọc L5: 427.049.500 đồng; Lê Thị Thanh T9: 93.009.900 đồng; Nguyễn Thị T13: 134.019.800 đồng; Nguyễn Thị X: 110.000.000 đồng và Nguyễn Thị Thu H7: 61.000.000 đồng). Số tiền này được chuyển đến tài khoản của Ha Duy K2 do L18 quản lý là: 693.059.400 đồng; chuyển đến tài khoản TRAN NHAT do H lớn quản lý là: 882.069.305 đồng). Sau đó, Low B và H lớn rút tiền mặt giao cho Lim K3 How để chuyển về Malaysia cho Du Sheng T2 rút chiếm đoạt. L18 được hưởng lợi 3%/ 693.059.400 đồng (chuyển vào tài khoản của HA DUY KHANH) là: 20.791.782 đồng.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, thì trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ
ở của Low B tại căn hộ A chung cư T, C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q thu giữ trong phòng ngủ của L18 (một) gói nilong bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Low Boon L khai nhận: gói chất rắn dạng tinh thể màu trắng mà CQĐT thu giữ là ma túy đá do Low Boon L cất giữ với mục đích sử dụng cho bản thân.
Tại Bản Kết luận giám định số 10 ngày 24/01/2020 của Phòng K7 Công an
tỉnh Q kết luận: Chất rắn tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, trọng lượng 0,876 gam.
- Hành vi của L21: Tháng 11/2019, theo yêu cầu của đối tượng Du Sheng
T2, L21 đến Việt Nam để trực tiếp nhận từ đối tượng How lớn số tiền mà nhóm đối tượng chiếm đoạt được từ tài khoản Ngân hàng của những người bị hại Việt Nam chuyển đến các tài khoản mà L18 thuê các đối tượng người Việt Nam mở rồi cho người đến Ngân hàng rút tiền mặt về giao cho H lớn. Sau đó, Lim K mang số tiền này đến các chi nhánh Ngân hàng S6 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chuyển vào số tài khoản Ngân hàng S6 do Du Sheng T2 giao cho Lim K (chỉ giao số tài khoản, còn thẻ tài khoản thì Du Sheng Teacher quản lý sử dụng) để Du Sheng Teacher rút toàn bộ số tiền này tại Malaysia. Sau khi chuyển tiền, Lim Kean H dùng điện thoại di động cảm ứng chụp lại hình ảnh nội dung chuyển tiền đưa cho H lớn xem kiểm tra xác nhận rồi L21 xóa hủy hình ảnh này (không lưu giữ trong điện thoại). L21 được hưởng 2%/trên số tiền đã nhận và chuyển (gồm: 1%/trên tổng số tiền L18 chuyển cho H lớn và H lớn chuyển cho L10 Kean How và 1%/trên tổng số tiền mà Lim K3 How chuyển vào tài khoản Ngân hàng S6 cho Du Sheng T2). Tổng cộng L21 khai đã hưởng lợi số tiền khoảng 100.000.000 đồng nhưng chưa nhận được số tiền này thì đã bị bắt.
Kết quả điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được số tài khoản Ngân
hàng S6 dùng để nhận và chuyển tiền từ Lim Kean H đến cho Du Sheng T2. Căn cứ vào tổng số tiền Du Sheng T2 và đồng bọn chiếm đoạt của 07 người bị hại nêu trên là 1.575.128.700 đồng (được chuyển đến tài khoản của HA DUY KHANH do L18 quản lý là 693.059.400 đồng; chuyển đến tài khoản TRAN NHAT do How lớn quản lý là 882.069.305 đồng). Sau đó, Low B và H lớn rút tiền mặt giao cho Lim K3 How để chuyển về Malaysia cho Du Sheng T2 rút chiếm đoạt. Lim Kean H được hưởng lợi 2% x 1.575.128.700 đồng = 31.502.574 đồng nhưng chưa nhận tiền thì bị bắt.
- Hành vi của Võ Thiên L3: Khoảng tháng 7/2019, thông qua một người bạn
tên T20 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) L3 quen biết và kết bạn với các đối tượng Jackson L2 và Low B tại Thành phố Hồ Chí Minh (thời gian này Jackson L2 và L18 thuê căn hộ chung cư tại Số C B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để ở). Khoảng tháng 9/2019, Jackson L2 trao đổi với Võ Thiên L3 tìm người mở tài khoản Ngân hàng bán cho Jackson L2 với giá 300 USD (đô la Mỹ)/tài khoản (tương đương khoảng 6.000.000 đồng tiền Ngân hàng N11) để Jackson L2 sử dụng vào việc nhận và chuyển tiền cho ông chủ tại các sòng bạc ở Campuchia thì L3 đồng ý. Sau đó, L3 trao đổi và đưa sim số thuê bao điện thoại di động do Jackson L2 đã chuẩn bị trước đó cho Phạm Thị Thiên T5 (địa chỉ: 6 P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Ngọc M4 (sinh năm 1983; trú tại: Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) và Trương Kim Đ3 (sinh năm 1993; trú tại: quận P, Thành phố Hồ Chí Minh) ở cùng xóm trọ với L3 để T5, M4 và Đ3 đến các chi nhánh Ngân hàng M8, T26, S6, V8, A6, T29, O, V6 và một số Ngân hàng khác nhưng không nhớ cụ thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mở 20 tài khoản thanh toán quốc tế (gồm: Thư: 08 tài khoản; M4: 06 tài khoản; Đỉnh: 06 tài khoản) rồi bán cho L3 với giá 2.000.000 đồng/tài khoản, sau đó, L3 bán Jackson L với giá 300 USD (tương đương 6.000.000 đồng)/tài khoản, tổng cộng 20 tài khoản là 120.000.000 đồng. Nhưng Jackson L2 chỉ chuyển cho L3 số tiền 50.000.000 đồng để trả cho T5 20.000.000 đồng, M4 15.000.000 đồng, Đ3 15.000.000 đồng, số tiền còn lại nhiều lần L3 yêu cầu Jackson L2 trả nhưng Jackson L2 không trả nên giữa L3 và Jackson L2 xảy mâu thuẫn không liên hệ với nhau nữa.
Việc Võ Thiên L3 và Jackson L2 mâu thuẫn thì Low B1 L biết nên đã yêu
cầu Võ Thiên L3 tìm người mở tài khoản Ngân hàng bán cho Low B1 L với giá 200 USD/tài khoản thì Võ Thiên L3 đồng ý. Sau đó, Võ Thiên L3 đã trao đổi và đưa sim số thuê bao điện thoại di động cho Trần Văn P (có quen biết với L3) để thuê Trần Chí H9 (sinh năm 1991; trú tại: Thành phố Hồ Chí Minh) mở 08 tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế, đăng ký dịch vụ Internet Banking với giá 2.000.000 đồng/tài khoản rồi giao cho L3 để L3 giao cho L11 Boon L thì Low B1 L trả cho L3 30.000.000 đồng, L3 trả cho P 23.000.000 đồng còn hưởng lợi 7.000.000 đồng. Ngoài ra, L3 có mở 01 tài khoản Ngân hàng A5 thanh toán quốc tế đăng ký dịch vụ Internet Banking giao cho L18 sử dụng được L18 trả công 7.000.000 đồng. Đối với 14 tài khoản Ngân hàng do Phạm Thị Thiên T5 và Trương Kim Đ3 mở bán cho Jackson L2 nhưng Jackson L2 không trả tiền đầy đủ nên L3 yêu cầu T5, Đ3 đến Ngân hàng T30, thông tin tài khoản để bán lại cho L18. L18 kiểm tra thì chỉ có 04 tài khoản còn hoạt động còn 10 tài khoản đã bị khóa nên Low Boon L chưa trả tiền cho L3. Tổng cộng, L3 đã hưởng lợi số tiền 14.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài việc thuê người khác mở tài khoản Ngân hàng bán cho Low B thì L3
có 02 lần giúp Low B1 L đến Ngân hàng rút số tiền 300.000.000 đồng (01 lần 140.000.000 đồng, 01 lần rút 160.000.000 đồng) về đưa cho L18 để L giao cho Lim Kean H (người quản lý tiền của ông chủ Đài Loan). L3 thấy nguồn tiền chuyển vào tài khoản Ngân hàng A5 của L3 rất nhiều, lúc này L3 biết là tiền do người Malaysia, Đài Loan chiếm đoạt của người Việt Nam chuyển cho Low Boon L và Low Boon L chuyển cho L3. Khoảng đầu tháng 12/2019, L3 đi cùng Low B, Đặng Văn L9 và H lớn sang Campuchia để rút tiền từ tài khoản mà L9 thuê người khác mở bán cho Low B1 L để giao cho ông chủ (người Đài Loan) của Low B. Ông chủ của Low Boon L nhờ L18 nói L9 (do L9 không biết tiếng Malaysia) tìm người Việt Nam đưa qua Malaysia để làm công việc gọi điện thoại lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người Việt Nam thì L9 nhờ L18 nói lại là sẽ tìm. Lúc này, L9 biết rõ nguồn tiền mà L9 rút đưa cho ông chủ là từ hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người Việt Nam. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra ban đầu, L9 đều khai rõ biết hoạt động của L18 và đồng bọn là thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tiền của người Việt Nam nhưng L9 vẫn tích cực giúp sức cho Low B1 L để hưởng lợi nhưng sau đó lại thay đổi lời khai của mình là không biết hoạt động của Low Boon L và đồng bọn là chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
4. Hành vi của Trần Văn P: Trần Văn P và Võ Thiên L3 là bạn quen biết
nhau, khoảng tháng 11/2019 P và L3 gặp nhau qua trò chuyện, L3 nói L3 đang tìm người mở tài khoản Ngân hàng cho ông chủ ở Campuchia sử dụng để nhận và chuyển tiền từ sòng bạc và bảo P tìm người mở tài khoản Ngân hàng bán cho L3 với giá 200 USD/tài khoản (tương đương 4.000.000 đồng) thì P đồng ý. Sau đó, Võ Thiên L3 đưa sim thoại di động cho đối tượng tên Đặng Văn L9 giao cho P để thuê Trần Chí H9 (sinh năm 1991, trú tại Thành phố Hồ Chí Minh), đồng thời Đặng Văn L9 chở H9 đến các chi nhánh Ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh mở 08 tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế, dùng sim thuê bao điện thoại đăng ký dịch vụ Internet Banking rồi giao lại cho Võ Thiên L3 để giao Low B. Võ Thiên L3 đã trả cho Trần Chí H9 8.000.000 đồng, trả cho Đặng Văn L9 4.000.000 đồng (tiền công chở H9 đi mở tài khoản Ngân hàng với chi phí 500.000 đồng/tài khoản), trả cho P 11.000.000 đồng, còn nợ P số tiền 9.000.000 đồng. Riêng P có mở 01 tài khoản Ngân hàng A5 rồi giao cho L9 quản lý sử dụng.
Qua Võ Thiên L3, P quen biết Low Boon L thì Low Boon L đã trao đổi và
đưa sim thuê bao điện thoại di động cho P để P tìm người mở tài khoản Ngân hàng bán cho Low B1 L với giá 200 USD/tài khoản thì P đồng ý. Sau đó, P đã thuê Trần N7 (sinh ngày 03/02/1993; trú tại: ấp G, xã H, thành phố B) mở 02 tài khoản Ngân hàng T26 và V6 thanh toán quốc tế, sử dụng sim thuê bao điện thoại di động do L18 đưa để đăng ký đăng ký dịch vụ Internet Banking với giá 2.000.000 đồng/tài khoản, thuê Đặng Văn L9 chở N7 đi mở tài khoản với số tiền 500.000 đồng/tài khoản. Sau khi mở xong 02 tài khoản, N7 giao cho P và P giao cho Low Boon L thì Low Boon L trả cho P 5.000.000 đồng (gồm trả Nhất 4.000.000 đồng, trả Đặng Văn L9: 1.000.000 đồng), còn nợ 3.000.000 đồng; ngoài ra L23 có trả cho P 7.000.000 đồng (do Võ Thiên L3 còn nợ P khi thuê Trần Chí H9 mở 08 tài khoản Ngân hàng). Sau đó, Low B và Võ Thiên L3 xảy ra mâu thuẫn không liên hệ với nhau nữa nên L18 yêu cầu P trao đổi với Trần Chí H9 thay đổi thông tin, mật khẩu của 08 tài khoản mà H9 mở thì L18 có trả cho P 3.000.000 đồng, trả cho H9 2.000.000 đồng. Tổng cộng từ việc thuê người khác mở tài khoản Ngân hàng bán cho Low B, P đã hưởng lợi số tiền 21.000.000 đồng.
Ngoài ra, P có 03 lần giúp Low B1 L đến Ngân hàng rút tiền (không nhớ số
tiền đã rút) được Low Boon L trả công từ 1.000.000 đồng - 2.000.000 đồng/lần rút tiền và có khoảng 03 lần chở 03 người bạn Malaysia của L18 có tên là H, Lim K và một người không biết tên đi rút tiền và được trả công trả công từ 1.000.000 đồng - 2.000.000 đồng/lần rút tiền. Tổng cộng P đã hưởng lợi từ việc này là 5.000.000 đồng - 6.000.000 đồng.
Đến khoảng đầu tháng 01/2020, Low Boon L yêu cầu P tìm dữ liệu danh
sách thông tin khách hàng có độ tuổi từ 40 tuổi đến 70 tuổi, có đầy đủ thông tin về họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú, số chứng minh nhân dân, số điện thoại theo yêu cầu của ông chủ L18 với giá 100.000 thông tin = 250.000.000 đồng. Sau đó, P đã nhờ bạn của P là Cao Xuân Bảo K4 (làm ở Trung tâm Anh ngữ) lên các trang mạng xã hội tìm được một 01 file thô danh sách có 3.600.000 thông tin, K4 kiểm tra và lọc được 100.000 thông tin gửi đến tài khoản Zalo “tranvanphat” cho P để P gửi cho Low B1 L kiểm tra. Sau đó Low B trả lời là có nhiều sai số không sử dụng được nên P yêu cầu K4 tiếp tục kiểm tra và lọc được 8.000 thông tin đúng theo yêu cầu của Low B thì L18 đồng ý nhưng qua Tết Nguyên đán 2020 mới mua (do thời điểm tháng 01/2020 cận tết Nguyên Đán năm 2020). Đến ngày 17/01/2020, Low Boon L bị bắt nên việc mua bán này chưa thực hiện được.
Sau khi bị bắt và quá trình điều tra, P khai nhận nhiều lần đến căn hộ chung
cư của Low B, Võ Thiên L3 và Đặng Văn L9 thuê ở thì nhìn thấy Low B, Võ Thiên L3 và Đặng Văn L9 làm việc rất kín trong phòng, hay nhắn tin và trao đổi nội dung gì đó trên điện thoại, máy tính. Khi nào nghe có tiền chuyển thì chở người trong nhóm đi rút và nói là tiền vào thì phải chuyển thật nhanh hoặc rút nhanh nhất có thể. P có nghi ngờ tiền đó là tiền do phạm pháp mà có và P cũng lướt qua các trang mạng xã hội, thông tin truyền thông về các đối tượng người nước ngoài như Malaysia, Trung Quốc... qua Việt Nam lừa đảo chiếm đoạt tiền chuyển vào tài khoản Ngân hàng do các đối tượng mua được từ người khác. Do nghi ngờ nên P có hỏi L9 thì L9 bảo không sao đâu, nếu bị Công an bắt thì nói không biết do người trên mạng cần mua thì bán. P biết rõ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn làm để hưởng lợi. Nhưng sau đó lại thay đổi lời khai của mình là không biết hoạt động của Jackson L2, Low B và đồng bọn là chiếm đoạt tài sản của người bị hại. (Bút lục: 1.825 - 1.829; 1.832 - 1.836).
Tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định:
- Tài khoản số 9793397 - Ngân hàng A5 của Võ Thiên L3 mở giao cho L18
sử dụng: có số tiền chuyển đến tài khoản là 557.574.079 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay là 105.560 đồng.
- Tài khoản số 109353218217 - Ngân hàng T26 của TRAN NHAT, do Võ
Thiên L3 thông qua Trần Văn P thuê mở để bán cho L18 sử dụng vào việc nhận tiền chiếm đoạt của các bị hại: Trần Thị Khánh T6: 150.000.000 đồng; Thân Ngọc L5: 427.049.500 đồng; Nguyễn Thị T13 :134.019.800 đồng; Nguyễn Thị X: 110.000.000 đồng và Nguyễn Thị Thu H7: 61.000.000 đồng. Tổng cộng: 821.069.300 đồng. (Bút lục: 750 - 756)
Các tài khoản Ngân hàng V6 và S6 của Trần Chí H9 do L3 thông qua Trần
Văn P thuê mở bán cho Low B: có giao dịch chuyển đến 401.333.908 đồng (S6) và 735.814965 đồng (V6) (Bút lục: 937 - 951).
- Tài khoản số 19035032501019 - T26 của Phạm Thị Thiên T5 do Võ Thiên
L3 thuê mở bán cho Jackson L2 sử dụng nhận tiền chiếm đoạt của bị hại Sơn H5, với số tiền 220.000.000 đồng tiền chiếm đoạt được chuyển đến tài khoản 19035032501019 - T26 của Phạm Thị Thiên T5 (Bút lục: 769 - 772).
- Hành vi của Đỗ Thị Đ: Khoảng tháng 6/2019, tại Campuchia Đ quen biết
và chung sống như vợ chồng với Low Boon L. Tháng 10/2019, L18 đưa Đ từ Campuchia về Việt Nam rồi thuê căn hộ chung cư T tại số C B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để ở. Tại đây, Đ sử dụng số hộ chiếu của Đ để mở 03 tài khoản Ngân hàng S6, T26 và MB thanh toán quốc tế có đăng ký dịch vụ Internet Banking rồi giao cho Low B1 L sử dụng nhận chuyển tiền. Từ tháng 10/2019 đến tháng 01/2020, Low Boon L và Đ thường xuyên qua lại giữa Việt Nam và Campuchia để Low Boon L thuê người mở tài khoản Ngân hàng và sử dụng để nhận và chuyển tiền do nhóm đối tượng chiếm đoạt của người bị hại Việt Nam. Mọi chi phí sinh hoạt ăn uống hàng ngày, thuê chung cư và chi tiêu cá nhân đều do Low Boon L chi trả. Ngoài ra, Đ đã lôi kéo rủ rê và trực tiếp chở Cao Ngọc N (bạn của Đ) đến các Ngân hàng T26, V6, S6 và M8 mở 04 tài khoản thanh toán quốc tế để N bán cho Low B1 L với giá 200 USD/tài khoản. L18 có trả cho Cao Ngọc N số tiền 300 USD còn nợ N số tiền 500 USD. Đông không có hưởng lợi từ việc giới thiệu N mở thẻ Ngân hàng bán cho Low B1 L. Đ biết rõ hoạt động của Low B và đồng bọn có liên quan đến hoạt động phạm tội chiếm đoạt tiền của người Việt Nam nhưng vẫn tích cực giúp sức, mở nhiều tài khoản Ngân hàng và giao cho L18 để thực hiện hành vi nhằm cùng hưởng lợi (Bút lục: 2.140 - 2.148).
Tài liệu chứng cứ thu thập được xác định: 03 tài khoản Ngân hàng (S6, T26
và MB) của Đ mở giao cho L quản lý sử dụng có phát sinh giao dịch nhận tiền chiếm đoạt của người bị hạin do nhóm đối tượng chuyển đến, gồm:
- Tài khoản MB phát sinh có 100.008 đồng;
- Tài khoản S6 (Bút lục: 2.176) phát sinh có 105.790.292 đồng, trong đó Đỗ
Thị Đ nộp tiền mặt vào tài khoản là 70.000.00 đồng ngày 23/9/2019 và chuyển tiền liên Ngân hàng có 30.000.000 đồng ngày 31/12/2019, còn lại các phát sinh có được chuyển tiền ví MOMO với số tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng.
- Tài khoản T26 phát sinh có 117.780.000 đồng, phát sinh nợ 117.647.328
đồng .
Quá trình điều tra xác định: Trong dữ liệu trong điện thoại thu giữ của Đ xác
định có nhiều nội dung Đông nhắn tin cho L18 cung cấp số thẻ Ngân hàng, mã thẻ, mật khẩu, số điện thoại đăng ký Internet Banking 0777.871.113, 0775.974.151, mã OTP (Bút lục 2.053 - 2.129).
- Hành vi của Cao Ngọc N: Khoảng năm 2019, tại C và Đỗ Thị Đ quen biết
và trở thành bạn của nhau. N thường xuyên đến phòng trọ của Đ chơi nên gặp và quen biết Low Boon L (là người chung sống như vợ chồng với Đ) và đối tượng tên H lớn (người Malaysia). Tại đây, N nhìn thấy Low Boon L và H lớn thường xuyên làm việc trên điện thoại, máy tính trong phòng riêng (có nhiều điện thoại, sim điện thoại và nhiều thẻ ATM của Ngân hàng). How lớn yêu cầu Low Boon L thuê N về Việt Nam mở tài khoản Ngân hàng bán cho Low B1 L để Low Boon L mang sang Campuchia sử dụng nhận, chuyển tiền cho ông chủ của L18. Mọi chi phí đi lại từ Campuchia về Việt Nam và ngược lại, chi phí ở, sinh hoạt, ăn uống, chi tiêu cá nhân của N và chi phí làm thẻ là 200 USD/tài khoản do ông chủ của L18 chi trả cho N thì N đồng ý. Khoảng tháng 12/2019, L18 đã đưa Đ và N về Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam thuê căn hộ chung cư T B, Thành phố Hồ Chí Minh để ở và thực hiện việc mở tài khoản Ngân hàng cho Low Boon L như thoả thuận. Tại đây, Low B đã mua và giao cho N điện thoại cảm ứng có gắn sim thuê bao điện thoại di động và yêu cầu Đ đưa N đến các Ngân hàng T26, V6, S6, M5 mở 04 (bốn) tài khoản thanh toán quốc tế, dùng điện thoại có gắn sim thuê bao điện thoại di động đăng ký dịch vụ Internet Banking. Do các Ngân hàng hẹn giao thẻ ATM sau khi mở từ 01 đến 02 tuần nên L18 đưa Đ và N về lại Campuchia để Low Boon L thực hiện việc nhận và chuyển tiền cho ông chủ của L18. Đầu tháng 01/2020, Low Boon L đưa Đ và N từ Campuchia về Thành phố Hồ Chí Minh để N đến Ngân hàng nhận 04 thẻ ATM đã mở trước đó, L18 có trả cho N 300 USD còn nợ lại 500 USD chưa trả. N có nghi ngờ hoạt động thuê mở tài khoản Ngân hàng để nhận, chuyển tiền của Low Boon L và ông chủ của L18 có liên quan đến hoạt động phạm tội nhưng phạm tội gì thì N không biết nhưng vẫn tích cực giúp sức, mở nhiều tài khoản Ngân hàng giao cho Low B1 L sử dụng nhận và chuyển tiền của người khác nhằm hưởng lợi.
Tài liệu chứng cứ thu thập được xác định:
- Tài khoản T26 và S6 chưa phát sinh giao dịch (Bút lục: 3.175);
- Tài khoản Ngân hàng V6 do N mở giao cho L18 phát sinh 17 giao dịch từ
ngày 05/01/2020 đến 15/01/2020 với tổng số tiền giao dịch phát sinh chuyển đến 23.110.000 đồng và chuyển đi là 22.995.000 đồng (Bút lục: 502 - 513). Trong đó:
+ Ngày 06/01/2020, tài khoản số 19035308433012 - NH T26 của Đỗ Thị Đ
chuyển vào tài khoản số 100871136448 - V6 của Cao Ngọc N 2.100.000 đồng;
+ Ngày 10/01/2020, tài khoản số 19035308433012 - NH T26 của Đỗ Thị Đ
chuyển vào tài khoản số 100871136448 - V6 của Cao Ngọc N 3.000.000 đồng và chuyển thêm 02 lần mỗi lần 5.000.000 đồng;
+ Ngày 11/01/2020, tài khoản số 19035308433012 - NH T26 của Đỗ Thị Đ
chuyển vào tài khoản số 100871136448 - V6 của Cao Ngọc N 5.000.000 đồng;
+ Ngày 15/01/2020, tài khoản số 19035308433012 - NH T26 của Đỗ Thị Đ
chuyển vào tài khoản số 100871136448 - V6 của Cao Ngọc N 980.000 đồng;
- Tài khoản Ngân hàng MB phát sinh 06 giao dịch với tổng số tiền 200.005
đồng (Bút lục: 503).
Số tiền 23.110.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng T26 của Đỗ Thị Đ chuyển
đến tài khoản V6 của Cao Ngọc N giao cho L18 quản lý sử dụng là nguồn tiền phạm tội mà có.
2. Hành vi phạm tội của Jackson L2 và các đối tượng Nguyễn Văn L1,
Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1 và Nguyễn Thị B (do J1 chủ mưu cầm đầu). Cụ thể:
- Hành vi của Jackson L2: Theo yêu cầu của đối tượng Du Sheng T2, tháng
7/2019 Jackson L2 đến Thành phố Hồ Chí Minh thuê căn hộ chung cư T (Số B M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) để ở. Tại đây, Jackson L2 đã lôi kéo các đối tượng Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1 và Nguyễn Thị L6 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến ở cùng để thực hiện tội phạm. J1 phân công T3 tìm người mở tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế để mua rồi giao cho Jackson L2 sử dụng nhận và chuyển tiền chiếm đoạt của người bị hại, thực hiện việc này Jackson L2 trả cho T3 chi phí mở tài khoản Ngân hàng là 4.000.000 đồng/tài khoản; trả công cho T3 2.000.000 đồng/tuần. Nguyễn Hữu H1 sạc pin điện thoại di động để dùng vào việc gọi và nhận mã OTP Ngân hàng từ người bị hại, nhập thông tin tài khoản Ngân hàng của người bị hại vào điện thoại, nhận tin nhắn mã OTP (mật khẩu giao nhận tiền). Sau đó, Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Văn L1 giúp Jackson L2 nhập vào máy tính, điện thoại thông tin tài khoản Ngân hàng của người bị hại để J1 quản lý sử dụng để nhận và chuyển tiền chiếm đoạt của người bị hại bằng dịch vụ Internet Banking. Nguyễn Thị B giúp cho J liên hệ với H1 để nhận mã OTP chuyển tiền của Ngân hàng và giao lại cho Jackson L2 để Jackson L nhập, chuyển tiền. Toàn bộ chi phí ăn, ở sinh hoạt tại căn hộ đều do J1 chi trả. Sau khi, nhóm đối tượng thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền từ tài khoản Ngân hàng của người bị hại chuyển đến tài khoản Ngân hàng do Jackson L2 thuê mở và quản lý thì Jackson L2 chuyển số tiền này về Malaysia cho đối tượng Du S1 Teacher rút chiếm đoạt.
Kết quả điều tra xác định: Tổng số tiền trong tài khoản Ngân hàng của 21
người bị hại bị Du Sheng T2 và đồng bọn chiếm đoạt là 18.365.102.900 đồng (gồm: Trần Hoàng Quỳnh T4: 565.009.900 đồng, Lê Thị Thúy H3: 99.000.000 đồng, Trần Thị Khánh T6: 1.627.000.000 đồng; Thân Ngọc L5: 300.029.700 đồng; Lê Thị Thanh T9: 600.000.000 đồng; Nguyễn Thị L6: 1.029.994.000 đồng; Nguyễn Thị X: 422.000.000 đồng, Lâm Thị Kim T10: 800.000.000 đồng, Lê Thanh T11: 487.000.000 đồng, Sơn H5: 720.000.000 đồng, Nguyễn Công T12: 54.000.000 đồng, Phạm Duy K5: 61.009.900 đồng, Nguyễn Thị T13: 1.350.059.400 đồng, Nguyễn Thị Thu H6: 712.000.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết T14: 3.200.000.000 đồng, Lê Phương V: 50.000.000 đồng, Đinh Thị Thanh L7: 140.000.000 đồng, Ngô Thị Thu T15: 100.000.000 đồng, Trần Thị N3: 1.999.000.000 đồng, Lê Thị T18: 3.950.000.000 đồng và Vưu Long V3: 99.000.000 đồng). Số tiền này được chuyển đến tài khoản của Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Hữu H1, Trần Thị Băng N1, tài khoản của các đối tượng do Nguyễn Thị Bích T3 thuê mở và tài khoản của một số đối tượng khác mở bán cho Jacson L12 quản lý sử dụng nhận và chuyển về Malaysia cho Du Sheng T2 rút chiếm đoạt.
- Hành vi của Nguyễn Thị Bích T3: Khoảng tháng 10/2019, T3 gặp Jackson
L2 và được Jackson L2 yêu cầu tìm người mở tài khoản Ngân hàng bán cho Jackson L2, mỗi tuần Jackson L trả công cho T3 2.000.000 đồng thì T3 đồng ý nên đã đến căn hộ chung cư The Sun A3 ở cùng với J, Nguyễn Thị B. Tại đây, Jakson L13 thoả thuận với T3 chi phí để mua 01 tài khoản Ngân hàng là 4.000.000 đồng (trong đó 3.000.000 đồng là tiền mua tài khoản Ngân hàng, 1.000.000 đồng là tiền mua điện thoại và sim để đăng ký dịch vụ Internet Banking). T3 đã thuê nhiều người mở tài khoản Ngân hàng để bán cho Jackson L2 (tài khoản gồm: số tài khoản, mật khẩu, điện thoại đã có sim đăng ký dịch vụ, thẻ ATM). Trong đó, thuê Nguyễn Văn L1 mở 13 tài khoản Ngân hàng với số tiền 26.000.000 đồng (2.000.000 đồng/tài khoản). Thông qua Nguyễn Văn L1 để thuê Lê Thị Bích L8 (bạn của L1) mở 10 tài khoản Ngân hàng với giá 3.000.000 đồng/tài khoản, T3 trả cho L1 30.000.000 đồng để trả cho L8 nhưng L1 chỉ trả cho L8 15.000.000 đồng. Sau đó, T3 đã giới thiệu cho Trần Thị Băng N1, Nguyễn Thị Trà M1 là bạn của T3 đến căn hộ chung cư The Sun A3 ở và mở 15 tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế (Nhi mở 05 tài khoản; Trà My mở 10 tài khoản Ngân hàng), đăng ký dịch vụ Internet Banking, gồm: S8, E, B3, O1, K8, V6 và các Ngân hàng khác (không nhớ cụ thể) bán cho Jackson L2 với giá 3.000.000 đồng/tài khoản. Nguyễn Thị Trà M1 thông qua Hồ Văn N9 (sinh năm 1996, nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long) để thuê Tô Nhựt V1 (sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long) và Trần Thanh N4 (sinh năm 1998, nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long) mở khoảng 10 tài khoản Ngân hàng bán cho N9 với số tiền 8.000.000 đồng/10 tài khoản nhưng chưa nhận được tiền của N9. Tổng cộng, T3 đã thuê nhiều người mở khoảng 50 tài khoản Ngân hàng, riêng T3 đã trực tiếp mở 03 tài khoản thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng T26, E và MB bán cho J1 với giá 1.000.000 đồng/tài khoản; 02 tài khoản Ngân hàng V6 và M9 bán cho Jackson L2 với giá 2.000.000 đồng/tài khoản. Tổng cộng, T3 được hưởng lợi từ việc tìm người mua tài khoản Ngân hàng và mở tài khoản Ngân hàng bán cho J1 khoảng 14.000.000 đồng. Tất cả các tài khoản Ngân hàng mà J1 mua, Jackson L2 đều giao cho Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Văn L1 nhập thông tin khách hàng (như họ tên, số tài khoản, mật khẩu Internet B2) vào máy tính, điện thoại rồi chuyển toàn bộ thông tin khách hàng qua cho Jackson L2.
Đến khoảng đầu tháng 11/2019, Jackson L2 có đưa cho Nguyễn Thị Trà M1
01 tài khoản Ngân hàng và bảo T3 đi cùng M1 đi đến Ngân hàng để M1 rút số tiền 426.000.000 đồng đem về giao cho Jackson L2. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra ban đầu, T3 khai nhận biết Jackson L2 và đồng bọn có liên quan đến hoạt động phạm tội chiếm đoạt tiền của người Việt Nam nhưng T3 vẫn tích cực giúp sức cho Jackson L2 để hưởng lợi. Nhưng sau đó lại thay đổi lời khai của mình là không biết hoạt động của Jackson L2 và đồng bọn là chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Tài liệu chứng cứ thu thập được xác định: Nhóm đối tượng đã sử dụng các
tài khoản do T3 mở giao cho Jackson L2 sử dụng để nhận và chuyển tiền có được từ việc chiếm đoạt tiền trong tài khoản Ngân hàng của những người bị hại, cụ thể:
+ Tài khoản số: 107870972671 - Ngân hàng V6, chủ tài khoản Nguyễn Thị
Bích T3 được chuyển tiền đến với số tiền 2.876.650.058 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 000 đồng;
+ Tài khoản số: 1030127113009 - Ngân hàng M8, chủ tài khoản Nguyễn Thị
Bích T3: được chuyển tiền đến với số tiền 1.000.600.087 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 30.787 đồng;
+ Tài khoản số: 20021026000122 - Ngân hàng E, chủ tài khoản Nguyễn Thị
Bích T3: được chuyển tiền đến với số tiền 376 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 538 đồng;
+ Tài khoản số: 04202014973447 - Ngân hàng M9, chủ tài khoản Nguyễn
Thị Bích T3: được chuyển tiền đến với số tiền 3.235.700.000 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 17.984 đồng;
+ Tài khoản số tài khoản: 19034640519013 - Ngân hàng T26, chủ tài khoản
Nguyễn Thị Bích T3: được chuyển tiền đến với số tiền 6.640.501.209 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay là 000 đồng;
- Hành vi của Nguyễn Hữu H1: Khoảng tháng 10/2019, H1 được Nguyễn
Thị Bích T3 (là chị ruột của H1) giới thiệu đến chung cư T, số B M, quận B, thành phố Hồ Chí Minh ở cùng Jackson L2 và Nguyễn Thị Bích T3 để mở khoản Ngân hàng bán cho Jackson L2. Tại đây, H1 đã mở 05 tài khoản thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng A5, S6, T26, O2 rồi thông qua T3 bán cho Jackson L2 với giá 2.000.000 đồng/tài khoản. Đến cuối tháng 10/2019, Jackson L2 phân công H1 sạc pin điện thoại di động (dùng gọi và nhận mã OTP Ngân hàng từ bị hại), nhập thông tin tài khoản Ngân hàng của người bị hại vào điện thoại, nhận tin nhắn mã OTP (mật khẩu giao nhận tiền) đọc cho Jackson L2 và Nguyễn Văn L1 nhập vào máy tính, điện thoại để thực hiện việc chuyển tiền bằng dịch vụ Internet Banking qua nhiều tài khoản Ngân hàng khác nhau. Mỗi tháng Jackson L2 trả lương cho H1 từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. H1 làm công việc này được 03 tháng và hưởng được 20.000.000 đồng thì nghỉ. Cùng làm công việc này với H1 có Nguyễn Văn L1 và được Jackson L2 trả lương cao hơn H1 nhưng H1 không biết cụ thể là bao nhiêu. Tổng số tiền H1 được hưởng từ Jackson L thông qua việc quản lý điện thoại và bán thẻ Ngân hàng cho J1 là 30.000.000 đồng. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra ban đầu, H1 khai nhận: Tại thời điểm mở 05 tài khoản Ngân hàng để đưa cho Nguyễn Thị Bích T3 bán lại cho Jackson L2 với giá 2.000.000 đồng/ tài khoản H1 chưa biết bán tài khoản cho Jackson L2 để làm gì, nhưng H1 có nghi ngờ là Jackson L2 dùng tài khoản Ngân hàng của H1 để phạm tội, nhưng do cần tiền, H1 vẫn mở tài khoản để bán cho Jackson L2. Sau đó, H1 đến làm việc cho J1 nên biết rõ hoạt động phạm tội của Jackson L2 và được Jackson L2 trả lương từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Nhưng sau đó thay đổi lời khai là không biết hoạt động phạm tội của Jackson L2 và đồng bọn là chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Tài liệu chứng cứ thu thập được xác định: Nhóm đối tượng đã sử dụng các
tài khoản do Nguyễn Hữu H1 mở giao cho Jackson L2 sử dụng để nhận và chuyển tiền có được từ việc chiếm đoạt tiền trong tài khoản Ngân hàng của những người bị hại, cụ thể:
+ Tài khoản số 8770147 Ngân hàng A5, chủ tài khoản Nguyễn Hữu H1:
Được chuyển tiền đến với số tiền 900.550.000 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 606.850 đồng;
+ Tài khoản số 070094543639 Ngân hàng S6, chủ tài khoản Nguyễn Hữu
H1: Được chuyển tiền đến với số tiền 85.347.895 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 84.912 đồng;
+ Tài khoản số: 19034965631014 Ngân hàng T26, chủ tài khoản Nguyễn
Hữu H1: Được chuyển tiền đến với số tiền 8.170.352.690 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 8.923 đồng;
+ Tài khoản số tài khoản: 960908 Ngân hàng O2, chủ tài khoản Nguyễn Hữu
H1: Được chuyển tiền đến với số tiền 500.000 đồng và số dư cuối kỳ hiện nay còn 100.000 đồng;
- Hành vi của Nguyễn Văn L1: Do có quen biết Nguyễn Thị Bích T3 nên
tháng 11/2019 được T3 giới thiệu đến căn hộ chung cư T, Số B M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ở cùng Jackson L2, Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị B, Nguyễn Hữu H1 để mở tài khoản Ngân hàng thông qua T3 bán cho Jackson L2 để J sử dụng nhận và chuyển tiền. L1 đã dùng CMND của L1 đến các ngân Ngân hàng V8, V6, S6, T26, O3, M5, E, A5, O2, K9, S8, T29 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mở 13 tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế, sử dụng sim thuê bao điện thoại di động do T3 đưa để đăng ký dịch vụ Internet Banking rồi thông qua T3 bán cho Jackson L2 với giá 2.000.000 đồng/tài khoản, tổng cộng là 26.000.000 đồng. Ngoài ra, có giới thiệu cho Lê Thị Bích L8 (là bạn gái của L1) mở 10 tài khoản Ngân hàng thanh toán quốc tế bán cho Jackson L2 với giá 2.000.000 đồng/tài khoản. Sau đó, L1 giúp Jackson L2 nhập số tài khoản thẻ ATM, số điện thoại đăng ký dịch vụ Internet Banking, mật khẩu đăng nhập, tên chủ tài khoản (do T3 và Trà M1 mua về); nhập mã OTP vào điện thoại do J1 giao và gửi toàn bộ thông tin đăng nhập này qua phần mềm S2 cho Nguyễn Hữu H1 để kiểm tra lại rồi mới gửi cho J1 quản lý, sử dụng nhận và chuyển tiền chiếm đoạt của người bị hại nhưng L1 không biết nguồn gốc và chuyển đi đâu. L1 được Jackson L2 trả công 8.000.000 đồng/tháng. Tổng cộng, L1 đã hưởng lợi số tiền 34.000.000 đồng.
- Hành vi của Nguyễn Thị B: Bé có quen hệ sống chung như vợ chồng với
đối tượng Jackson L2 tại Malaysia. Tháng 10/2020, B cùng với Jackson L2 về Thành phố Hồ Chí Minh thuê căn hộ chung cư T, Số B M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để sống cùng các đối tượng Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1, và đối tượng tên L7 (không rõ lai lịch). Tại đây, B giúp cho J nhận mã OTP chuyển tiền của Ngân hàng rồi giao lại cho Jackson L2 để Jackson L nhập, chuyển tiền từ tài khoản bị chiếm đoạt qua các tài khoản khác do Jackson L quản lý.
Kết quả kiểm tra dữ liệu điện thoại Iphone 6 thu giữ của B có nhiều tin nhắn
thể hiện nội dung nhận tiền từ các Ngân hàng S6, V8 của tài khoản Nguyễn Thị Trà M1, Nguyen Thi Thu H11 chuyển đến số tài khoản 1015308246 – Ngân hàng S8 của Trần Thanh N4 (do J1 quản lý sử dụng để nhận tiền chiếm đoạt của bị hại Trần Thị Khánh T6 với số tiền từ 19.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng) và dữ liệu trong đồng hồ Apple Watch có thể hiện mã OTP Ngân hàng. Bé biết việc tiền bị chiếm đoạt chuyển vào tài khoản của Trần Thanh N4 (tài khoản Jackson L2 dùng để chuyển và nhận tiền chiếm đoạt của các bị hại) thông qua tin nhắn trên điện thoại Iphone 6 của B. Riêng B có mở 01 tài khoản Ngân hàng S6 (số tài khoản: 070091449690) giao cho Jackson L2 quản lý và sử dụng (phát sinh giao dịch có số tiền 701.919.245 đồng, số dư cuối kỳ tính đến ngày 20/01/2020 là 17.874.715 đồng). Mọi chi phí ở, sinh hoạt, ăn uống, chi tiêu cá nhân của B do J chi trả và B được Jackson L2 mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 01 đồng hồ Apple W. Bé biết M1, N1, T3, H1, L1 và L7 mở thẻ Ngân hàng bán cho Jackson L2 để Jackson L2 thực hiện hành vi phạm tội nhưng không biết giá bán là bao nhiêu. Sau khi bị bắt, B khai nhận biết hoạt động của Jackson L2 là lừa đảo chiếm đoạt tiền của người Việt Nam nhưng B vẫn lấy thông tin mã OTP gửi đến các tài khoản Ngân hàng do Jackson L2 thuê những người sống tại căn hộ mở theo yêu cầu của Jackson L2, để Jackson L2 nhập, chuyển tiền. Sau đó, B thay đổi lời khai không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất dữ liệu điện tử trong điện thoại
Iphone 6 của B. Kết quả trích xuất: có rất nhiều tin nhắn liên quan đến việc nhận mã OTP của các Ngân hàng V6, A5... hoặc chuyển, nhận tiền như:
“SDTK 1015308246 DEN 10:37:11 NGAY 06/01/2020 LA 100,716,047
VND. GD MOI NHAT: +100,000,000 VND: TRAN THI KHANH TRANG CHUYEN TIEN GD 224588”;
“SDTK 1015308246 DEN 00:28:39 NGAY 04/01/2020 LA 300,778,825
VND. GD MOI NHAT: +300,000,000 VND: NGUYEN THI TRA MY CHUYEN TIEN GD 227132”;
“Tin nhắn ngày 07-01-2020 lúc 20:11 có nội dung: Ma xac thuc OTP cua
ban la 758102, ma xac thuc co hieu luc tron thoi gian 5 phut ke tu khi ban gui tin nhan”.
- Hành vi của Nguyễn Thị Trà M1: tháng 10/2019, Trà M1 được Nguyễn Thị
Bích T3 giới thiệu đến căn hộ chung cư T, Số B M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ở cùng với Jackson L2, T3, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu H1 để mở tài khoản Ngân hàng bán cho Jackosn L14 sử dụng nhận và chuyển tiền. Tại đây, Trà M1 đã đến các Ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh mở 10 tài khoản Ngân hàng T28 (chỉ nhớ các Ngân hàng S8, E, B3, O1, K8, V6), sử dụng sim số thuê bao điện thoại di động do T3 đưa để đăng ký dịch vụ Internet Banking rồi bán cho Jackson L2 với giá 3.000.000 đồng/tài khoản. M1 được T3 trả 15.000.000 đồng, số tiền còn lại T3 chưa thanh toán cho M1. Ngoài ra, đầu tháng 11/2019, J đưa thẻ Ngân hàng cho M1 để đến Ngân hàng rút số tiền 426.000.000 đồng giao cho T3, còn cho M1 1.000.000 đồng còn lại trong tài khoản. Tổng cộng, M1 đã hưởng lợi số tiền 16.000.000 đồng. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra ban đầu, M1 khai nhận biết Jackson L2 và đồng bọn có liên quan đến hoạt động phạm tội chiếm đoạt tiền của người Việt Nam nhưng M1 vẫn tích cực giúp sức mở tài khoản bán cho Jackson L2 để hưởng lợi. Nhưng sau đó lại thay đổi lời khai của mình là không biết hoạt động của Jackson L2 và đồng bọn là chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Tài liệu chứng cứ thu thập được xác định: Các tài khoản ngân hàng của
Nguyễn Thị Trà M1 mở giao cho Jackson L2 sử dụng nhận số tiền 4.826.000.000 đồng chiếm đoạt của các bị hại, gồm:
+ Bà Trần Hoàng Quỳnh T4: 300.000.000 đồng;
+ Bà Trần Thị Khánh T6: 328.000.000 đồng;
+ Trần Thị N3: 1.000.000.000 đồng.
+ Bà Lê Thị T18: 1.000.000.000 đồng.
+ Ông Vưu Long V3: 99.000.000 đồng.
+ Bà Lê Thanh T11: 387.000.000 đồng.
+ Ông Sơn H5: 500.000.000 đồng.
+ Bà Nguyễn Thị T13: 500.000.000 đồng.
+ Bà Nguyễn Thị Thu H6: 712.000.000 đồng.
- Hành vi của Trần Thị Băng N1: Thông qua Nguyễn Thị Bích T3, N1 đến
căn hộ chung cư T, Số B M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ở cùng với Jackson L2, T3, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu H1 để mở 05 tài khoản thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng MSB, S6, T26, V6 và T29), sử dụng sim số thuê bao điện thoại di động do T3 đưa để đăng ký dịch vụ Internet Banking rồi bán cho Jackson L2 với giá 3.000.000 đồng/tài khoản để Jackson L2 quản lý sử dụng nhận tiền chiếm đoạt của người bi hại. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra ban đầu, Băng N1 khai nhận biết Jackson L2 và đồng bọn có liên quan đến hoạt động phạm tội chiếm đoạt tiền của người Việt Nam nhưng N1 vẫn tích cực giúp sức mở tài khoản Ngân hàng bán cho Jackson L2 để hưởng lợi. Nhưng sau đó lại thay đổi lời khai của mình là không biết hoạt động của Jackson L2 và đồng bọn là chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định: 05 tài khoản Ngân hàng của Trần
Thị Băng N1 mở bán cho Jackson L2 sử dụng nhận tiền từ tài khoản của Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thanh N4, Trần Thị Bích L15 (là những tài khoản mà Jackson L2 mua để sử dụng vào việc chuyển và nhận tiền chiếm đoạt của các bị hại nêu trên sau đó chuyển đến tài khoản của Trần Thị Băng N1). Cụ thể:
- Căn cứ vào tài khoản số 060237417375 Ngân hàng S6 của Trần Thị Băng
N1, xác định: Từ ngày 03/12/2019 đến ngày 30/01/2020 có nhận 357.000.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Thị Trà M1 chuyển đến. (Bút lục: 516 - 553 và 2.177 – 2.182)
- Căn cứ vào tài khoản số 04201014973438 - Ngân hàng M9 của Trần Thị
Băng N1, xác định: Từ ngày 03/12/2019 đến ngày 03/01/2020: có nhận 167.900.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Thị Trà M1 chuyển đến; từ ngày 09/12/2019 đến ngày 12/12/2019: có nhận 59.400.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Thị Bích T3 chuyển đến. (Bút lục: 561 - 564)
- Căn cứ vào tài khoản số 19035214179015 - Ngân hàng T26 của Trần Thị
Băng N1, xác định: Từ ngày 30/12/2019 đến ngày 10/01/2020 có nhận số tiền 8.312.900.000 đồng (là tiền bị chiếm đoạt) từ tài khoản Trần Thanh N4, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Thị Bích T3 và tài khoản số 03256653501 - NH T31 (chưa xác định chủ tài khoản) chuyển đến và có số tiền 8.611.600.000 đồng (là tiền bị chiếm đoạt) từ tài khoản Trần Thị Băng N1 chuyển đến tài khoản Lê Thị Bích L8. (Bút lục: 584 - 589)
Tổng cộng có 10.227.299.000 đồng dòng tiền từ tài khoản của Trần Thanh
N4, Nguyễn Thị Trà M1, Nguyễn Thị Bích T3, Võ Ngọc H12 và tài khoản 03256653501 - NH T31 (chưa xác định chủ tài khoản) được chuyển đến tài khoản của Trần Thị Băng N1; có 8.611.700.000 đồng dòng tiền chuyển từ tài khoản Trần Thị Băng N1 đến tài khoản Lê Thị Bích L8. Các tài khoản chuyển tiền đến và nhận tiền từ tài khoản của Trần Thị Băng N1 là tài khoản Ngân hàng J1 mua, quản lý, sử dụng vào việc chiếm đoạt tiền của các bị hại trong vụ án.
Kết quả điều tra xác định: Jackson L cùng nhóm đối tượng đã sử dụng các
tài khoản Ngân hàng do các bị cáo Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1 và các tài khoản do Nguyễn Thị Bích T3 thuê các đối tượng khác mở để nhận tiền chiếm đoạt của 16 người bị hại với tổng số tiền là 10.171.779.200 đồng (gồm: Trần Hoàng Quỳnh T4: 365.009.900 đồng; Trần Thị Khánh T6: 1.127.000.000 đồng; Thân Ngọc L5: 300.029.700 đồng; Lê Thị Thanh T9: 400.000.000 đồng; Nguyễn Thị L6: 709.900 đồng, Nguyễn Thị X: 422.000.000 đồng, Lâm Thị Kim T10: 600.000.000 đồng, Lê Thanh T11: 387.000.000 đồng, Sơn H5: 720.000.000 đồng, Nguyễn Thị T13: 800.029.700 đồng, Nguyễn Thị Thu H6: 712.000.000 đồng, Đinh Thị Thanh L7: 140.000.000 đồng, Ngô Thị Thu T15: 100.000.000 đồng, Trần Thị N3: 1.999.000.000 đồng, Lê Thị T18: 2.000.000.000 đồng, Vưu Long V3: 99.000.000 đồng).
Jackson L và nhóm đối tượng sử dụng tài khoản Ngân hàng của các đối tượng
Hồ Nhật T21, Phạm Thị Thiên T5, Hồ Thị T22, Nguyễn Thị Huyền T23, Trần Duy N10, Thu H13, Nguyễn Si H14, Tô Văn S3, Nguyễn Ngọc G, Đậu Ngọc N2, Nguyễn Công L16, Phạm Thu U, Bùi Thị H15, Trương Minh T24, Phạm Ngọc L17 để nhận tiền chiếm đoạt của 13 bị hại trong vụ án là: 8.193.323.700 đồng (gồm: Trần Hoàng Quỳnh T4: 200.000.000 đồng, Trần Thị Khánh T6: 500.000.000 đồng, Lê Thị Thúy H3: 99.000.000 đồng, Lê Thị Thanh T9: 200.000.000 đồng, Nguyễn Thị L6: 1.029.284.100 đồng, Lâm Thị Kim T10: 200.000.000 đồng, Lê Thanh T11: 100.000.000 đồng, Nguyễn Công T12: 54.000.000 đồng, Phạm Duy K5: 61.009.900 đồng,. Nguyễn Thị T13: 550.029.700 đồng, Nguyễn Thị Tuyết T14: 3.200.000.000 đồng, Lê Phương V: 50.000.000 đồng, Lê Thị T18: 1.950.000.000 đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Low Boon L phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng
viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
1.2. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các điểm a,
g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: Low Boon L (mười hai) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: Low Boon L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017); tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Low Boon L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 17/01/2020).
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
+ Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn L1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù được tính từ ngày bị tạm giam (ngày 10/3/2021).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt của các bị cáo
khác, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp khác, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/8/2024, bị cáo Nguyễn Văn L1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Ngày 30/8/2024, bị cáo Low Boon L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Low Boon L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
số tiền bồi thường, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L1; bị cáo chỉ là người giúp sức,
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tội danh: Bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1 khai nhận tội, đối chiếu
thấy phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến đầu năm 2020, nhóm đối tượng người Đài Loan do đối tượng có tên Du Sheng T2 (thường gọi là “Ông chủ” hiện đang trú tại Malaysia) chủ mưu cầm đầu đã sử dụng phương thức, thủ đoạn: giả danh là cán bộ đang công tác trong ngành Công an gọi điện thoại cho nhiều người bị hại là người Việt Nam yêu cầu phải cung cấp các thông tin tài khoản cá nhân để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự liên quan. Sau đó, sử dụng thiết bị kỹ thuật số điện tử tạo App từ ứng dụng có tên và huy hiệu của “Bộ C2” chạy trên hệ điều hành Android; dùng số điện thoại ảo VoIP gọi vào số máy cố định, đưa thông tin giả, lừa người bị hại cài đặt và nhập tất cả thông tin tài khoản Ngân hàng vào ứng dụng nêu trên thì nhóm đối tượng chiếm quyền kiểm soát điện thoại (quản lý cuộc gọi; truy cập tệp tin; truy cập danh bạ; sử dụng App để gửi và nhận tin nhắn thay cho ứng dụng SMS), tài khoản (số tài khoản Ngân hàng; số dư; mật khẩu đăng nhập; số điện thoại đăng ký Internet Banking; mã OTP), đồng thời tự thao tác chuyển tiền từ tài khoản người bị hại vào tài khoản do đối tượng quản lý để chiếm đoạt. Tháng 7/2019, theo sự chỉ đạo của đối tượng chủ mưu cầm đầu là Du Sheng Teacher, các đối tượng Jackson L, Low B, L21 đến Việt Nam tìm và cấu kết với các đối tượng Võ Thiên L3, Trần Văn P, Nguyễn Thị B, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1, Đỗ Thị Đ và Cao Ngọc N thực hiện việc mở tài khoản, thuê người mở tài khoản, rút tiền, chuyển tiền để chiếm đoạt từ tài khoản Ngân hàng của người bị hại. Mặc dù biết rõ hình thức hoạt động của nhóm tội phạm do D3 chủ mưu, cầu đầu sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại tại Việt Nam nhưng các đối tượng vẫn giúp sức tích cực nhằm hưởng lợi.
Kết quả điều tra đã xác định: Có 22 người bị hại ở các tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Long An, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Phước, Bình Thuận, Tây Ninh, Hà Nội, Ninh Thuận, Bà Rịa Vũng T25, An Giang, Bạc Liêu bị nhóm đối tượng rút chiếm đoạt trong tài khoản Ngân hàng của họ với tổng số tiền 19.940.276.700 đồng, cụ thể gồm:
1. Trần Hoàng Quỳnh T4: 965.059.400 đồng;
2. Trần Thị Khánh T6: 1.977.000.000 đồng;
3. Thân Ngọc L5: 727.079.200 đồng;
4. Lê Thị Thanh T9: 693.049.000 đồng;
5. Nguyễn Thị L6: 1.030.000.000 đồng;
6. Nguyễn Thị X: 532.000.000 đồng;
7. Lâm Thị Kim T10: 800.000.000 đồng;
8. Lê Thanh T11: 487.000.000 đồng;
9. Sơn H: 720.000.000 đồng;
10. Nguyễn Thị T13: 1.484.079.200 đồng;
11. Nguyễn Thị Thu H6: 712.000.000 đồng;
12. Đinh Thị Thanh L7: 140.000.000 đồng;
13. Ngô Thị Thu T15: 100.000.000 đồng;
14. Trần Thị N3: 1.999.000.000 đồng;
15. Lê Thị T18: 3.950.000.000 đồng;
16. Vưu Long V3: 99.000.000 đồng.
17. Lê Thị Thúy H3: 99.000.000 đồng.
18. Nguyễn Công T12: 54.000.000 đồng.
19. Phan Duy K: 61.009.900 đồng.
20. Nguyễn Thị Tuyết T14: 3.200.000.000 đồng.
21. Nguyễn Thị Thu H7: 61.000.000 đồng.
22. Lê Phương V: 50.000.000 đồng.
Trong đó, xác định nhóm do các bị cáo Low Boon L, bị cáo Lim Kean H giữ
vai trò điều hành cùng với các bị cáo Võ Thiên L3, Trần Văn P, Đỗ Thị Đ, Cao Ngọc N giữ vai trò giúp sức tích cực để nhóm đối tượng người Đài Loan thực hiện hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản của 07 bị hại Việt Nam. Sau đó, Low B cùng đồng bọn (H) rút tiền mặt giao cho L21 để chuyển về Malaysia cho Du Sheng T2 rút chiếm đoạt. Low Boon L đã hưởng lợi được số tiền 20.791.782 đồng, L21 được hưởng lợi số tiền 31.502.574 đồng nhưng chưa nhận được thì bị bắt, Võ Thiên L3 đã hưởng lợi số tiền 14.000.000 đồng, Trần Văn P đã hưởng lợi số tiền 26.000.000 đồng, Cao Ngọc N đã hưởng lợi số tiền 300 USD. Nhóm các bị cáo Nguyễn Thị Bích T3, Nguyễn Hữu H1, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị Trà M1, Trần Thị Băng N1, Nguyễn Thị B có vai trò giúp sức cho Jackson L2 mở tài khoản Ngân hàng và thuê những người Việt Nam mở tài khoản ngân hàng giao cho Jackson L2 quản lý sử dụng nhận và chuyển tiền chiếm đoạt của người bị hại, nhận và nhập mã OTP tài khoản Ngân hàng nhằm giúp sức cho Jackson L2 và đồng bọn sử dụng các tài khoản Ngân hàng này để nhận và chuyển tiền chiếm đoạt trong tài khoản của 15 người bị hại. Nguyễn Thị Bích T3 đã hưởng lợi số tiền 15.000.000 đồng, Nguyễn Hữu H1 đã hưởng lợi số tiền 30.000.000 đồng, Nguyễn Văn L1 đã hưởng lợi số tiền 34.000.000 đồng, Nguyễn Thị Trà M1 đã hưởng lợi số tiền 16.000.000 đồng, Trần Thị Băng N1 đã hưởng lợi số tiền 15.000.000 đồng. Nguyễn Thị B không được hưởng lợi bằng tiền, nhưng được Jackson L2 mua cho 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 01 đồng hồ Apple Watch, mọi chi phí sinh hoạt của B và tiền tiêu xài cá nhân được Jackson L2 cung cấp.
Đối với bị cáo Low Boon L, ngoài hành vi phạm tội nêu trên còn có hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamin, trọng lượng 0,876 gam để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Low Boon L đã bị TAND tỉnh Quảng Nam xét
xử về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Heroine, C1, Methamphetamine, A4, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn L1 đã bị TAND tỉnh Quảng Nam
xét xử về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bản án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ
phạm tội, đồng thời khi quyết định hình phạt đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ như: Các bị cáo thực hiện tội phạm có tính nguy hiểm cao, có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, có phân công nhiệm vụ, vai trò cho từng nhóm, từng bị cáo trong việc thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức và phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chung đã gây ra. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, đã tác động gia đình nộp một phần tiền để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Bị cáo Nguyễn Văn L1 đã ra đầu thú, phạm tội giữ vai trò đồng phạm giúp sức, không trực tiếp chiếm đoạt tiền của các bị hại; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình có công với cách mạng.
Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc cho bị
hại và dư luận xã hội nên cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm. Căn cứ vào tính chất, vai trò thực hiện tội phạm của từng bị cáo trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Low Boon L 12 (mười hai) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Văn L1 07 (bảy) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, không nặng. Đồng thời buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới trả lại cho các bị hại tài sản đã chiếm đoạt theo vai trò tính chất của các bị cáo trong vụ án là phù hợp.
Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội
và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để làm căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và lời bào chữa của các vị Luật sư, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1
và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các điểm a,
g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: Low Boon L (mười hai) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy
tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: Low Boon L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017); tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Low Boon L phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 17/01/2020).
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
+ Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn L1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giam (ngày 10/3/2021).
2. Về án phí: Các bị cáo Low Boon L, Nguyễn Văn L1 mỗi bị cáo phải chịu
200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, phần trách
nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp khác, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực
| pháp luật kể từ ngày tuyên án.Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Nam (05); - Công an tỉnh Quảng Nam (03); - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Cục THADS tỉnh Quảng Nam; - Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam tỉnh Quảng Nam (03); - Bị cáo (TTG giao cho bị cáo); - Người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Hòa An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (thay cho việc thông báo bằng văn bản); - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Phạm Văn Hợp |