vanban.org

Bản án 120/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tường V. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn với anh Ngô Thanh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tường V - Ngô Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15-9-2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị An Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Mẫn;

Ông Lê Thanh Nghị.

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Nam – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Huỳnh Đức Lập– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256a/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 319a/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Khu phố H, phường S, tỉnh Đồng Tháp (ấp H, xã B, Thành phố G, tỉnh Tiền Giang cũ).

* Bị đơn: Anh Ngô Thanh H, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Khu phố H, phường S, tỉnh Đồng Tháp (ấp H, xã B, Thành phố G, tỉnh Tiền Giang cũ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V trình bày:

Chị và anh Ngô Thanh H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 20/11/2015 tại UBND xã B, Thành phố G, Tiền Giang (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142/2015; quyển số: 01/2015). Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều quan điểm sống khác nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không giải quyết được, làm rạn nứt đến tình cảm vợ chồng. Cho đến nay giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự chia sẻ, không hòa hợp, không hàn gắn được. Vì vậy, nay chị làm đơn này xin được ly hôn với anh Ngô Thanh H vì không còn tình cảm, không còn hòa hợp, không hàn gắn lại được.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình chung sống, anh, chị có 01 con chung. Họ và tên: Ngô Thanh H1 Sinh năm: 15/07/2013, hiện cháu H1 đang được chị V trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Chị V yêu cầu được tiếp tục là người trực nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Và chị V không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Ngô Thanh H đã được triệu tập hợp lệ theo đúng quy định pháp luật nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Chị Nguyễn Thị Tường V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Anh Ngô Thanh H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng Thông báo thụ lý, thông báo thu thập tài liệu chứng cứ, triệu tập mời hòa giải, dự phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh H vẫn vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Đương sự V đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Riêng đương sự H đã từ bỏ quyền tố tụng và không chấp hành nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị V được ly hôn với anh H; Về con chung Ngô Thanh H1, sinh ngày 15/07/2013 hiện đang do chị V trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, theo yêu cầu của chị V mong muốn trực tiếp tiếp tục nuôi con và cũng đáp ứng theo nguyện vọng của cháu vẫn mong muốn được chị V tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị V có điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Mặt khác, anh H không có ý kiến tranh chấp nuôi con căn cứ theo Điều 81, 82, 83 đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị V

- Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận

Về án phí sơ thẩm thì chị V chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Tường V khởi kiện xin ly hôn anh Ngô Thanh H có nơi cư trú tại phường S, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Ngô Thanh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, chị V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nguyễn Thị Tường V và anh Ngô Thanh H tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Chị V và anh H sau khi sống chung một thời gian, chị V và anh H thường phát sinh cãi nhau, anh chị có thời gian dài mâu thuẫn, chị chịu đựng, đến khi chị không thể chịu đựng nỗi nên anh chị đã ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Chị V xin ly hôn, anh H nhận được thông báo thụ lý, 02 lần thông báo hòa giải, nhưng anh không có ý kiến phản hồi và mong muốn tòa hòa giải để vợ chồng anh trở lại đoàn tụ. Điều này chứng minh rằng anh không còn muốn níu kéo cuộc hôn nhân này và không còn tha thiết cùng chung sống với chị V tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cho chị V được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị, có 01 con chung chưa thành niên, chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện nuôi con của chị V làm công nhân có thu nhập, có điều kiện nuôi con, đồng thời chị V cũng không có yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H cũng không có ý kiến về việc nuôi con chung và cũng đáp ứng nguyện vọng của cháu Ngô Thanh H1 mong muốn chị V tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, nên giao con cho chị V tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp với Điều 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận.

Về nợ chung: tự thỏa thuận.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị Tường V chịu án phí theo quy định.

Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tường V.

- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn với anh Ngô Thanh H.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Tường V được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Ngô Thanh H1, sinh ngày 15/07/2013, chị V không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung : tự thỏa thuận.

Người không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Khi án có hiệu lực pháp luật nếu xét thấy cần thiết chị V và anh H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng.

- Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Tường V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0001151 ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, chị V đã nộp xong án phí.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ