vanban.org

Bản án 120/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Phương D.

Về hôn nhân: Bà Lương Thị Phương D được ly hôn với ông Đặng Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Phương D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2025
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Giữ.

2. Ông Nguyễn Huy Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 304/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 470/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Phương D, sinh năm 1986, địa chỉ: khóm 4, thị trấn Lai V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là khóm 4, xã Hoà L, tỉnh Đồng Tháp), có mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Văn S, sinh năm 1985, địa chỉ: Số 828, khóm Vĩnh Q, thị trấn Vĩnh T, huyện Châu P, tỉnh An Giang (nay là số 828, ấp Vĩnh Q, xã Vĩnh T, tỉnh An Giang), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14 tháng 01 năm 2025, bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà, nguyên đơn là bà Lƣơng Thị Phƣơng D trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông S chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 20/8/2015. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông S gây nợ nần, ghen tuông, đánh đập hâm doạ giết bà, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên tranh cải làm ảnh hưởng hạnh phúc gia đình. Bà và ông S đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà D yêu cầu ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà và ông S có 02 người con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 16/12/2015 và Đặng Thị Hoài A, sinh ngày 09/3/2019, hiện đang sống với bà D. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung là cháu Khang, cháu An, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản hoà giải, bị đơn là ông Đặng Văn S trình bày:

Về hôn nhân: Ông S thống nhất lời trình bày của bà D về hôn nhân, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Do vẫn còn tình cảm với bà D nên ông S không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà D có 02 người con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 16/12/2015 và Đặng Thị Hoài A, sinh ngày 09/3/2019, hiện đang sống với bà D.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án đã tổ chức hoà giải giữa các đương sự nhưng không thành.

Tại phiên toà bà Lương Thị Phương D vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.

- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.

Về con chung: Giao con chung tên Đặng Minh K và Đặng Thị Hoài A cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dạy. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông S theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà D và ông S chung sống với nhau vào năm năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 20/8/2015 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai của bà D và ông S có căn cứ xác định trong quá trình chung sống giữa bà D và ông S có phát sinh mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, từ đó đã sống ly thân khoảng hơn 03 năm nay.

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã cố gắn động viên, hoà giải để bà D và ông S đoàn tụ nhưng bà D vẫn cương quyết ly hôn, không muốn vợ chồng đoàn tụ.

Ông S cho rằng vẫn còn tình cảm với bà D, không đồng ý ly hôn, tuy nhiên ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh, hơn nữa Toà án triệu tập ông S tham gia phiên toà để động viên hoà giải nhưng ông S vắng mặt, điều này cho thấy sự thiếu quyết tâm của ông S trong hàn gắn tình cảm vợ chồng để đoàn tụ.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà D và ông S. Tại biên bản xác minh do Tòa án lập ngày 01/8/2025, đại diện Công an xã Vĩnh Thạnh Trung cho biết trong quá trình chung sống bà D và ông S có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ do không nhận được thông tin.

Từ cơ sở trên xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông S là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà D yêu cầu ly hôn với ông S là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung:

Bà D và ông S có 02 người con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 16/12/2015 và Đặng Thị Hoài A, sinh ngày 09/3/2019, hiện đang sống với bà D. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung là cháu K, cháu A, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu K và cháu A hiện đang sống với bà D, cháu Khang có nguyện vọng được sống với bà D, nên giao cháu K và cháu A cho bà D tiếp tục nuôi dạy. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D, ông S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí:

Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Phương D.

1. Về hôn nhân:

Bà Lương Thị Phương D được ly hôn với ông Đặng Văn S.

2. Về con chung:

Bà Lương Thị Phương D được nuôi dạy con chung tên Đặng Minh K, sinh ngày 16/12/2015 và Đặng Thị Hoài A, sinh ngày 09/3/2019.

Ông Đặng Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình của mình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lương Thị Phương D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009717 ngày 12 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 – An Giang). Ông Đặng Văn S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ