- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng Duy TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng Duy phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 120/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Thanh Bình - Bí thư huyện đoàn.
Bà Lê Thị Xuân- Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: ông Ngô Văn Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đăng Duy, sinh ngày 04/12/2007;
HKTT: Thôn Ngô Xá, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng Chính, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1978; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không;
Tiền sự:
+ Ngày 11/8/2023, Công an thị xã Quế Võ xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 24/8/2023, Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 28/8/2023, Công an thành phố Bắc Ninh xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 20/10/2023, UBND xã Phật Tích xử lý hành chính bằng hình thức áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến ngày 29/3/2024 áp dụng biện pháp “Bảo Lĩnh”. Hiện có mặt tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Tiến Minh, sinh ngày 28/02/2007;
HKTT: Thôn Đông Lâu, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến Nghĩa, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Thắm, sinh năm 1975; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/3/2024 đến ngày 20/3/2024 áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện có mặt tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
*Bị hại: Chị Lương Thị Hoài, sinh năm 2005 (Vắng mặt- xin xét xử vắng mặt)
HKTT: Bản Làng, xã Sơn Hà, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Địa chỉ: Thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh;
*Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Đăng Duy: Ông Nguyễn Đăng Chính, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Thôn Ngô Xá, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt);
*Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Tiến Minh: Bà Nguyễn Thị Thắm, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn Đông Lâu, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt);
*Người bào chữa cho bị cáo Duy và Minh: Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh (Có mặt);
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Đức Hữu Hưng, sinh năm 1998;
HKTT: Thôn Làng Bất Lự, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Phố Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt, xin xét xử vắng mặt);
2. Ông Nguyễn Đăng Chính, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Thôn Ngô Xá, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt);
3. Bà Nguyễn Thị Thắm, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn Đông Lâu, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du nhận được đơn trình báo của chị Lương Thị Hoài, sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú (HKTT) tại bản Làng, xã Sơn Hà, huyện Quang Sơn, tỉnh Thanh Hóa về việc chị để xe ở khu trọ của gia đình ông Nguyễn Thành Vương, sinh năm 1969 ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh bị kẻ gian trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 36H7-130.05.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du làm rõ Nguyễn Đăng Duy, sinh ngày 04/12/2007; HKTT: Thôn Ngô Xá, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh là người thực hiện hành vi trộm cắp nêu trên.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, Duy đi bộ một mình đến thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du chơi game. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Duy đi bộ lòng vòng xem khu trọ nào có tài sản sơ hở sẽ trộm cắp. Khi đi đến khu trọ của gia đình ông Vương, Duy quan sát thấy cửa khu trọ mở, phía bên trong nhà để xe tầng 1 của khu trọ có để nhiều xe mô tô nên Duy đi vào khu trọ rồi lên tầng 2 (là khu vực kinh doanh trò chơi bi-a). Khi thấy chỉ có một người phụ nữ nên Duy đi bộ xuống tầng 1 thấy không có người. Duy tiến lại gần xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 36H7 – 130.05 rồi dùng tay và chân bẻ gãy khóa cổ của xe, dắt chiếc xe đi đến trước cửa nhà văn hóa xóm Tiểu, thôn Đại Thượng thì dừng lại và thực hiện đấu điện, đề nổ được chiếc xe. Duy điều khiển xe đến khu vực thôn Ngô Xá, xã Phật Tích, huyện Tiên Du tháo biển kiểm soát và gương chiếu hậu bên trái của xe rồi vứt xuống mương nước. Sau đó, Duy tiếp tục điều khiển chiếc xe trên đến cửa hàng sửa chữa khóa của anh Nguyễn Công Thảo, sinh năm 1976 ở Phố Và, phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh để đánh 02 chiếc chìa khóa xe.
Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, Duy nhắn tin cho Nguyễn Tiến Minh sinh ngày 28/02/2007; HKTT: thôn Đông Lâu, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du là bạn bè quen biết xã hội để nhờ Minh tìm chỗ cầm cố chiếc xe. Duy nói với Minh là chiếc xe mô tô trên là của gia đình mình nên Minh đồng ý. Sau đó khi đi đến khu vực nhà văn hóa thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, Minh thấy ổ khóa của xe có dấu hiệu bị cậy phá nên hỏi Duy về nguồn gốc của chiếc xe. Lúc này Duy nói với Minh “Xe này tao mới trộm cắp được của công nhân ở Đại Thượng; mày chỉ tao chỗ cầm xe lấy tiền, xong tao sẽ cho mày 500.000đ”. Minh đồng ý và cùng Duy đến cửa hàng cầm đồ “Đức Hưng” ở thôn Đại Sơn do anh Lê Đức Hữu Hưng, sinh năm 1998; HKTT: Làng Bất Lự, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du làm chủ. Tại cửa hàng, anh Hưng không đồng ý với lý do là bản thân không còn kinh doanh cầm đồ nữa. Sau đó, Duy đề nghị anh Hưng cho vay tiền và để xe lại làm tin, khi nào có tiền trả sẽ lấy lại xe và nói nguồn gốc chiếc xe là của gia đình Duy, giấy tờ bố mẹ đang giữ, biển kiểm soát xe hiện để ở nhà. Anh Hưng nghe vậy thì tin tưởng và đồng ý cho Duy vay số tiền 5.000.000đ tiền. Sau đó, Duy và Minh đi chơi game tại quán Internet ở khu vực xã Hoàn Sơn. Tại quán Internet, Duy đã chia cho Minh số tiền 500.000đ. Minh chơi game đến khoảng 03 giờ 00 ngày 12/3/2024 thì về nhà ngủ, còn Duy vẫn tiếp tục chơi. Đến khoảng 9 giờ ngày 12/3/2024, Minh đến quán internet. Duy tiếp tục nhờ Minh dẫn Duy đến cửa hàng “Đức Hưng” vay thêm số tiền 1.000.000đ nhưng anh Hưng chỉ cho vay thêm số tiền 500.000đ. Toàn bộ số tiền Duy và Minh có được từ việc tiêu thụ chiếc xe nêu trên cả hai đã chi tiêu cá nhân hết.
Cùng ngày, khi biết Duy bị Công an triệu tập, Nguyễn Tiến Minh đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đầu thú. Anh Lê Đức Hữu Hưng đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 38/KL-ĐGTSTTHS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 36H7-130.05, số máy: JA70E0081743, số khung: RLHJA3939PY059933, dung tích xi lanh 109 cm3. Tài sản đã qua sử dụng. Có giá trị còn lại là 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng).
*Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Duy đã tự nguyện tự nguyện bồi thường cho chị Hoài số tiền 1.000.000 đồng để khắc phục hậu quả là chi phí sửa chữa chiếc xe máy. Chị Hoài đã nhận đủ số tiền và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Duy.
Ông Nguyễn Đăng Chính tự nguyện thay bị cáo Duy bồi thường cho anh Hưng số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả là tiền bị cáo Duy vay được số tiền tổng cộng 5.500.000 đồng và được hưởng lợi 5.000.000 đồng.
Bị cáo Minh tự nguyện bồi thường cho anh Hưng số tiền 500.000 đồng để khắc phục hậu quả là tiền bị cáo Duy vay được số tiền tổng cộng 5.500.000 đồng và được hưởng lợi 500.000 đồng.
Anh Hưng đã nhận đủ số tiền và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Duy và bị cáo Minh.
Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Đăng Duy và Nguyễn Tiến Minh đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 60/CT-VKSTD ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Truy tố bị cáo Nguyễn Đăng Duy về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và bị cáo Nguyễn Tiến Minh về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng Duy phạm tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Tiến Minh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 96 BLHS.
Áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng với thời hạn là từ 12 đến 14 tháng đối với bị cáo Nguyễn Đăng Duy, thời hạn chấp hành được tính từ ngày bắt tạm giữ đưa vào trường giáo dưỡng.
Căn cứ khoản 1, Điều 323; điểm i, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; 65, 91, 101 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Tiến Minh 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoài và anh Hưng đã nhận đủ số tiền và không ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét.
Về vật chứng: Chị Hoài đã nhận lại chiếc xe và không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Trong phần tranh luận:
Các bị cáo Nguyễn Đăng Duy và Nguyễn Tiến Minh nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt;
Các bị cáo Nguyễn Đăng Duy và Nguyễn Tiến Minh nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm hoà nhập xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí bản cáo trạng và bản luận tội đại diện VKS, không tranh luận gì về tội danh, về điều luật áp dụng đề nghị áp dụng điều 100 BLHS cho các bị cáo, về hình phạt đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho các bị cáo và đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Người đại diện cho các bị cáo là ông Chính và bà Thắm: Không có ý kiến tranh luận gì. Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX cho các bị cáo mức án thấp nhất.
Đại diện VKS đối đáp: Sau khi phân tích đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy đề nghị như vậy là phù hợp nên giữ nguyên đề xuất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo, người đại diện, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại chị Lương Thị Hoài; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đức Hữu Hưng xin vắng mặt tại phiên toà đã có lời khai tại Cơ quan điều tra việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản dẫn giải, phù hợp vật chứng thu giữ, với thời gian, địa điểm, lời khai bị hại, người liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, tại tầng 1 khu trọ nhà ông Nguyễn Thành Vương, sinh năm 1969 ở thôn Đại Thượng, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đăng Duy có hành vi lén lút, trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 36H7-130.05 của chị Lương Thị Ngọc Hoài có trị giá 14.000.000 đồng.
Nguyễn Tiến Minh mặc dù biết chiếc xe trên là do Nguyễn Đăng Duy trộm cắp được mà có nhưng vẫn đồng ý đưa Duy đi đặt chiếc xe để vay tiền và được Duy cho 500.000 đồng.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng Duy đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, điều 173 BLHS; bị cáo Nguyễn Tiến Minh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp công dân, được pháp luật bảo vệ, gây mất gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử kịp thời và có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:
Bị cáo Duy là người có 04 tiền sự chưa được xoá, tuy nhiên các tiền sự đều trong thời gian bị cáo dưới 16 tuổi, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại và tác động gia đình để bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Minh là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp it nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đầu thú, ngoài ra bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng huân chương “Chiến sĩ giải phóng hạng ba”. Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Thời điểm phạm tội các bị cáo dưới 18 tuổi, trẻ tuổi, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên cần áp dụng các quy định tại chương XII BLHS khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cho các bị cáo là phù hợp.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với bị cáo Duy liên tiếp thực hiện các hành vi cùng loại trộm cắp tài sản, mục đích bán lấy tiền ăn tiêu, đều bị xử lý hành chính, bị cáo chưa có ý thức thay đổi, chưa chuyển biến, chưa có ý thức tuân thủ pháp luật, vì vậy bị cáo phải được học tập, rèn luyện đạo đức, tại một tổ chức nghiêm khắc hơn nhằm giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội; biết tuân thủ pháp luật nên đối với bị cáo Duy cần áp dụng biện pháp tư pháp, đưa vào trường giáo dưỡng.
Đối với bị cáo Minh là người lần đầu phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi nhưng cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung một khoản tiền đối với bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật; tuy nhiên các bị cáo là người dưới 18 tuổi, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như lời đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và bồi thường đầy đủ, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không gắn biển kiểm soát, số máy JA70E0081743, số khung RLHJA3939PY059933 ngày 04/4/2024 cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe trên cho chị Hoài là đúng quy định pháp luật.
Liên quan trong vụ án này:
Đối với anh Lê Đức Hữu Hưng đã cho bị cáo Duy vay tiền và giữ lại chiếc xe mô tô làm tin. Quá trình điều tra xác định, khi vay tiền Duy nói xe là của gia đình Duy nên anh Hưng tin tưởng và đã đồng ý cho Duy vay tiền. Do đó Cơ quan điều tra không xử lý mà đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở đối với anh Hưng là phù hợp.
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô khi chưa đủ 18 tuổi của Nguyễn Đăng Duy. Cơ quan điều tra đã có công văn chuyển Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Tiên Du giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng Duy phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Nguyễn Tiến Minh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 96 BLHS.
Áp dụng biện pháp tư pháp, giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với Nguyễn Đăng Duy với thời hạn 12 tháng. Thời hạn chấp hành được tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo để đưa vào trường giáo dưỡng.
Căn cứ khoản 1, Điều 323; điểm i, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; 65, 91, 101 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Tiến Minh 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến Minh cho UBND xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Căn cứ các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
*Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA,THADS huyện Tiên Du; - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; -Trại giam; - Lưu hồ sơ, văn phòng. Nguyễn Tiến Minh phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Điều 96 BLHS. Đăng Duy với thời hạn 12 tháng. Thời hạn chấp hành được tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo để đưa vào trường giáo dưỡng. BLHS. thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. theo quy định tại Điều 68, 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. *Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. chữa cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Trịnh Thanh Bình Lê Thị Xuân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Mạnh QUYẾT ĐỊNH: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng Duy phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 91; Áp dụng biện pháp tư pháp, giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với Nguyễn Căn cứ khoản 1, Điều 323; điểm i, s, khoản 1; khoản 2; Điều 51; 65, 91, 101 Xử phạt: Nguyễn Tiến Minh 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian Giao bị cáo Nguyễn Tiến Minh cho UBND xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du; Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện Căn cứ các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số * Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của các bị cáo, người bào Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Mạnh |