- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Cường - cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội“Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 120/2024/HS-PT Ngày 21 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Phượng;
Các Thẩm phán: ông Trương Văn Hai, ông Nguyễn Hoàng Thám.
- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Huỳnh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 192/2024/TLPT-HS ngày 01/8/2024 đối với bị cáo Lê Thanh C, do có kháng cáo của bị cáo Lê Thanh C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thanh C, sinh năm 1962, tại huyện T, tỉnh An Giang, nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành L và bà Huỳnh Thị D, có vợ là Đào Kim H, sinh năm 1966 đ ng bị cáo trong vụ án ; tiền án, tiền sự: không, bị tạm gi , tạm giam t ngày 22/01/2024 đ n nay, có m t.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh C: Luật sư Nguyễn Thanh T – Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: ấp N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang, đt: 0977556681 vắng m t .
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đào Kim H, bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do phát sinh tranh chấp ranh đất, khoảng 11 giờ ngày 26-8-2023, Lê Thanh C cùng vợ Đào Kim H cự cãi với Huỳnh Thị Thúy P một lúc thì nghỉ. Khi bi t sự việc, Huỳnh Thiện P1 cháu của P cầm 01 cây dao quéo dài khoảng 70cm không thu h i được đ n đứng phía sau nhà C, ngụ ấp T, xã N, huyện T, lớn ti ng chửi thề, nhiều lần nh t đá ném lên nóc nhà của C. Nghe chửi, C cầm 01 cây dao quéo dài 34cm đi ra và nh t 01 viên đá ném vào hông trái của P1, thì P1 cầm 01 cây dao và lấy 01 cây đòn gánh ở chỗ nhà b p của C rượt C chạy ra trước nhà. Cùng lúc này, H cầm 01 cây dao không thu h i được đ n cự cãi với P1, thì bị P1 dùng cây đòn gánh ném vào người, r i P1 xông vào giằng co, giật lấy cây dao trên tay H, ôm vật đè H nằm dưới đất, P1 cầm 02 cây dao chém vào hông sườn trái, dùng cán dao đánh vào vùng trán, m t của H gây thương tích. H tri hô “Ông C ơi cứu tôi”, C đ n dùng dao chém 01 nhát vào lưỡi dao của P1 đang cầm tay phải, r i dùng 01 khúc cây đánh vào tay trái của P1, làm 02 cây dao trên tay P1 và 01 cây dao trên tay của C rơi xuống đất. C nắm kéo P1 ra khỏi người H, ôm đè lên người P1, dùng tay phải nh t 01 viên đá đánh nhiều cái vào vùng đầu của P1 gây chảy máu nên C d ng lại. Tức giận vì đã bị P1 đè lên người đánh, H nh t 01 cây dao chém 02 nhát vào vùng chân của P1 gây thương tích. Xong, C và H bỏ đi, P1 được gia đình đưa đi cấp cứu. Cùng ngày, C đầu thú, khai nhận hành vi gây thương tích cho P1 và giao nộp 01 cây dao quéo, 01 khúc cây và 01 viên đá.
Vật chứng: thu gi nhiều vật chứng liên quan đ n vụ án.
Căn cứ K t luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 776 ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Huỳnh Thiện P1: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Huỳnh Thiện P1 là 20%, các thương tích do vật tày có cạnh và vật sắc gây nên.
* Căn cứ K t luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 881 và 882 ngày 29/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A k t luận:
Đối với Lê Thanh C: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Lê Thanh C là 03%, các thương tích do vật tày có cạnh và vật sắc gây nên.
Đối với Đào Kim H: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Đào Kim H là 09%.
Ngày 01/12/2023, C và H làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với P1, ngày 18/4/2024 C và H làm đơn rút yêu cầu khởi tố hình sự đối với P1. Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quy t định đình chỉ điều tra đối với P1.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh C 02 hai năm 06 sáu tháng tù. Thời hạn tù được tính t ngày bị bắt tạm gi , tạm giam, ngày 22/01/2024.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đào Kim H, bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/7/2024 bị cáo Lê Thanh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Thanh C gi nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo khai:
Gi a bị cáo và vợ là Đào Kim H với bị hại Huỳnh Thiện P1 không có mâu thuẫn, bị cáo cũng không bi t P1 là ai, nhưng có mâu thuẫn về đất đai với dì của P1 là bà Huỳnh Thị Thúy P, bà L1. Khoảng 10 giờ ngày 26/8/2023, sau khi bị cáo và Đào Kim H cự cãi với bà P là dì ruột của P1 thì về nhà tại ấp T, xã N, huyện T. Sau đó Huỳnh Thiện P1 đ n sau nhà bị cáo chửi thề, nh t đá ném lên nóc nhà của bị cáo, dẫn đ n cự cãi nhau, P1 xông vào giằng co vật đè H là vợ bị cáo xuống dưới đất, P1 cầm dao chém, đánh vào vùng trán, m t của H, bị cáo C đ n nắm kéo P1 ra khỏi người H, ôm đè lên người P1, dùng viên đá đánh nhiều cái vào vùng đầu của P1. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là không oan, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt sớm trở về lao động phụ giúp gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Thanh C mức án 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới. Đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh C, gi nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh C mức 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong h sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Thanh C làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đ ng xét xử xem xét và giải quy t theo trình tự phúc thẩm. Người bào ch a cho bị cáo vắng m t tại phiên tòa, tuy nhiên bị cáo vẫn đ ng ý để Hội đ ng xét xử ti n hành xét xử, không yêu cầu hoãn phiên tòa, nên xét xử vắng m t người bào ch a của bị cáo.
Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng: uá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý ki n ho c khi u nại gì. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Thanh C đã th a nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm nhận định, lời khai nhận tội của bị cáo C nêu trên phù hợp với lời khai bị hại, lời khai bị cáo Đào Kim H, người làm chứng, vật chứng vụ án, các K t luận giám định của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Huỳnh Thiện P1, đối với bị cáo Lê Thanh C và bị cáo Đào Kim H và nhiều tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. T đó có cơ sở k t luận: bị cáo Lê Thanh C đã có hành vi dùng đá và cây là loại hung khí nguy hiểm đánh nhiều cái vào vùng đầu, trán, m t, tay của P1, còn Đào Kim H cầm dao chém nhiều nhát vào chân của của P1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Hành vi của Lê Thanh C và Đào Kim H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù t 02 năm đ n 06 năm. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đ n sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cấp sơ thẩm căn cứ vào các tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ, nhân thân xử phạt bị cáo C 02 năm 06 tháng tù; xử phạt Đào Kim H 02 năm tù cho hưởng án treo là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo C: bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp chứng cứ mới. Tuy nhiên, xem xét toàn diện vụ án thì thấy, gi a bị cáo C và bị hại P1 không có mâu thuẫn, cũng hoàn toàn không quen bi t nhau, nhưng sau khi bị hại P1 nghe bà L1 là dì ruột điện thoại cho bi t sự việc bị cáo C chém bà P, thì bị hại P1 không tìm hiểu rõ sự việc, mà lại cầm dao đ n nhà bị cáo C nh t đá ném lên nóc nhà của bị cáo C, dùng lời lẽ thô tục chửi vợ ch ng bị cáo C và đánh nhau với Đào Kim H trước. Bị hại P1 cũng cầm dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị cáo C 02% riêng thương tích 1% ở đầu gối không phải do P1 gây ra , gây thương tích cho H 09%, nên trong vụ án bị hại P1 cũng có lỗi, đã bị khởi tố tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nhưng được bị cáo C, H rút yêu cầu khởi tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, thuộc thành phần lao động nghèo, nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị hại có đơn bãi nại đối với bị cáo, nên được áp dụng các tình ti t giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự. Bị cáo C có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này thì không còn lần phạm tội nào khác, có khả năng tự cải tạo tại địa phương để trở thành người tốt mà không cần thi t phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam. Do đó Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo C xin được giảm nhẹ hình phạt mà gi nguyên mức án 02 năm 06 tháng tù như cấp sơ thẩm đã tuyên, nhưng có xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Áp dụng Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo C n u bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Hội đ ng xét xử không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc gi nguyên bản án sơ thẩm.
Các quy t định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh C về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh C phạm tội“Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh C 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể t ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 21/8/2024).
Giao bị cáo Lê Thanh C cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lê Thanh C n u bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Lê Thanh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. HCM 1 ; - VKSND tỉnh An Giang 2 ; - TAND huyện Tri Tôn 2 ; - VKSND huyện Tri Tôn 1 ; - C ĐT CA huyện Tri Tôn 1 ; - Chi cục THADS huyện Tri Tôn (1); - UBND xã Núi Tô (1); - Bị cáo có kháng cáo 1 ; - Sở Tư pháp tỉnh An Giang 1 ; - Phòng H sơ CA An Giang 1 ; - Phòng KTNV và THA (1); - Lưu: Văn phòng, h sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phượng |