- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Hào - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 120 /2023/HS-ST Ngày: 05 - 5 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ T Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Công
2. Ông Huỳnh Hoàng Thuận
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2023/TLST- HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Ngọc H, sinh năm 1994 tại tỉnh Q; nơi cư trú: Thôn C, xã S, thị xã Đ, tỉnh Q; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc X, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: không; nhân thân: Ngày 14/6/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội cướp giật tài sản theo bản án số 92/2017/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2019. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại: Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1966; trú tại: đường V, phường Ê, thị xã Ư, tỉnh L. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Long O, sinh năm 1995; thường trú tại: Khu phố Lại Đức, phường Hoài Đức, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định; tạm trú: Số 46, đường số 7A, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
2. Ông Nguyễn Trường L, sinh năm 1977; thường trú: Ấp Hố Đá, xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
3. Ông Trần Ngọc Ơ, sinh năm 1960; trú tại: Thôn C, xã S, thị xã Đ, tỉnh Q. Vắng mặt
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hữu Ô, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn Y, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 20/9/2022, Trần Ngọc H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu xám, biển số: 73N3-2824 chạy đến địa chỉ số khu phố H, phường X, thành phố A, tỉnh Dthì phát hiện bà Lê Thị Hồng T đang đứng sát lề đường, bên cạnh bà T để 01 thùng xốp, phía trên thùng xốp có để 01 cái vali đựng đồ, còn 01 túi xách màu đen được để trên vali, phía bên trong túi xách có 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno màu xanh, số tiền 7.200.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị Hồng T, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Thị Hồng T, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lê Thị Hồng T, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank. Lúc này, H điều khiển xe mô tô chạy ngang qua vị trí bà T một đoạn khoảng 40 mét rồi H quay đầu xe lại chạy ngược chiều đến áp sát gần vị trí bà T đang đứng, dùng tay trái giật túi xách màu đen có những tài sản trên của bà T để lên trên ba gác xe mô tô của mình, nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát về hướng thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Bà T truy hô “Cướp, cướp”, ông Nguyễn Văn Y và Nguyễn Hữu Ô đang chờ đón khách nghe thấy nên điều khiển xe đuổi theo phía sau. Trên đường bỏ chạy, H điều khiển xe mô tô với tốc độ nhanh nên đã làm rơi mất túi xách đã giật được của bà T và rơi biển số xe mô tô, do không làm chủ được tay lái nên H té ngã trên đường Lê Hồng Phong giao nhau giữa đường Mỹ Phước - Tân Vạn. H đứng dậy lấy xe mô tô tiếp tục bỏ chạy thì bị ông O và ông Y đuổi kịp điều khiển xe lao vào xe của H, cùng người dân khống chế bắt giữ H giao cho Công an phường Thuận Giao lập hồ sơ, chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xử lý.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi đeo chéo màu đen; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xám, không biển số, số khung: RRkWWCH4UM7X012471, số máy: 1P50FMG0-01061489; 01(một) biển số xe: 61N8-5162; số tiền 6.500.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone ốp lưng màu xanh bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bị vỡ màn hình; 01(một) cục sạc dự phòng màu hồng đen; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Ngọc H; 01(một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Trần Ngọc H; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 73N5-2824; 01 (một) tai nghe Airpod không dây màu trắng có bọc cao su màu đen bên ngoài; 01 (một) căn cước công dân mang tên Bùi Long O; 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Bùi Long O.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 28/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An xác định: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 4 màu xanh, có trị giá 3.200.000 đồng.
Đối với 01 túi xách nữ màu đen, không rõ nhãn hiệu, do tài sản không thu hồi được và bị hại không cung cấp được hóa đơn chứng từ của tài sản nên hội đồng không đủ cơ sở định giá tài sản nêu trên.
Tại Cáo trạng số 106/CT-VKS -TA ngày 29/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt không thu hồi được, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Lê Thị Hồng T yêu cầu bị cáo Trần Ngọc H phải bồi thường số tiền 12.000.000 đồng, hiện bị cáo chưa bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xám, không biển số, số khung: 012471, số máy: 01061489 do bị can Trần Ngọc H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, xác minh được biết ông Nguyễn Văn Y đứng tên trên giấy đăng ký xe nhưng hiện ông Thắng không có mặt tại nơi cư trú nên chưa làm rõ được nguồn gốc xe. Bị cáo H khai nhận xe mô tô trên do bố ruột là Trần Ngọc Ơ đưa để làm phương tiện đi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã giám định số khung, số máy không thay đổi, quá trình điều tra không thu hồi được biển số xe, do đó cần giao lại xe mô tô trên kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 73N5-2824 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, khi nào rõ xử lý sau.
Đối với 01 (một) túi đeo chéo màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone ốp lưng màu xanh bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bị vỡ màn hình; 01(một) cục sạc dự phòng màu hồng đen; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Ngọc H; 01(một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Trần Ngọc H; 01 (một) tai nghe Airpod không dây màu trắng có bọc cao su màu đen bên ngoài là tài sản của bị cáo Trần Ngọc H không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo H là có căn cứ.
Đối với số tiền 6.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Ngọc H, cần quản thủ đảm bảo cho việc bồi thường cho bị hại Lê Thị Hồng T.
Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Bùi Long O; 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Bùi Long O. Quá trình điều tra, ông Bùi Long O khai nhận giấy tờ trên bị người khác chiếm đoạt tại khu vực đường Phan Hữu Ích, phường 14, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 01/9/2022, nhưng không nhìn thấy mặt người chiếm đoạt, còn bị cáo H khai nhận đã nhặt được trên đường nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho ông Toàn là có căn cứ.
Đối với biển số xe 61N8-5162, quá trình điều tra xác định do ông Nguyễn Trường L đứng tên đăng ký, ông L khai đã bán chiếc xe cùng biển số cho người khác không nhớ họ tên và không có nhu cầu nhận lại nên cần giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, khi nào rõ xử lý sau.
Bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại và của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 20/9/2022, tại địa chỉ số 01/7, khu phố Hòa Lân 1, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Trần Ngọc H điều khiển xe môtô biển số: 73N3-2824 chạy đến áp sát gần vị trí bà Lê Thị Hồng T đang đứng và dùng tay trái giật túi xách màu đen bên trong có 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno màu xanh trị giá 3.200.000 đồng, số tiền 7.200.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân của bà T rồi nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy thoát thì bị bắt giữ.
Hành vi của bị cáo sử dụng xe môtô áp sát và nhanh chóng giật lấy tài sản của bị hại rồi tẩu thoát đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 khoản 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm và nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm, điều khiển xe môtô lưu thông với tốc độ cao, áp sát và nhanh chóng giật lấy tài sản rồi tẩu thoát, hành vi đó có thể làm nạn nhân bị bất ngờ và xảy ra tai nạn giao thông, gây nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng của người bị hại. Bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đọat trái phép tài sản người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu từng bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội cướp giật tài sản nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại gồm: 01 túi xách màu đen bên trong túi xách có 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno màu xanh, số tiền 7.200.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị Hồng T, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lê Thị Hồng T, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Lê Thị Hồng T, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank. Quá trình điều tra không thu hồi được tài sản nên bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu xám, không biển số, số khung: 012471, số máy: 01061489 do bị cáo Trần Ngọc H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe này do ông Nguyễn Văn Y đứng tên trên giấy đăng ký xe nhưng hiện ông Thắng không có mặt tại nơi cư trú nên chưa làm rõ được nguồn gốc xe. Bị cáo H khai nhận xe môtô trên do bố ruột là Trần Ngọc Ơ đưa để làm phương tiện đi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã giám định số khung, số máy không thay đổi, không thu hồi được biển số xe, do đó cần tiếp tục giao chiếc xe môtô trên kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số: 73N5-2824 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý khi có đủ chứng cứ.
- 01 (một) túi đeo chéo màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone ốp lưng màu xanh bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bị vỡ màn hình; 01(một) cục sạc dự phòng màu hồng đen; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Ngọc H; 01(một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Trần Ngọc H; 01 (một) tai nghe Airpod không dây màu trắng có bọc cao su màu đen bên ngoài, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bị cáo Trần Ngọc H không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H.
- Số tiền 6.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Ngọc H, không liên quan đến việc phạm tội nhưng bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- 01 (một) biển số xe 61N8-5162, quá trình điều tra xác định do ông Nguyễn Trường L đứng tên đăng ký, ông Luông khai đã bán chiếc xe cùng biển số cho người khác không nhớ họ tên và không có nhu cầu nhận lại nên cần giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, khi nào rõ xử lý sau.
- 01 (một) căn cước công dân mang tên Bùi Long O; 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Bùi Long O. Quá trình điều tra, ông Bùi Long O khai nhận giấy tờ trên bị người khác chiếm đoạt tại khu vực đường Phan Hữu Ích, phường 14, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 01/9/2022, nhưng không nhìn thấy mặt người chiếm đoạt, còn bị cáo H khai nhận đã nhặt được trên đường nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho ông Toàn là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Trần Ngọc H có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lê Thị Hồng T số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không T toán số tiền trên cho người được thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án thì còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.
3. Về xử lý vật chứng:
Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu xám, không biển số, số khung: 012471, số máy: 01061489 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số: 73N5-282 và 01 (một) biển số xe 61N8-5162 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật khi có đủ chứng cứ.
Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc H 01 (một) túi đeo chéo màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone ốp lưng màu xanh bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bị vỡ màn hình; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bị vỡ màn hình; 01(một) cục sạc dự phòng màu hồng đen; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Ngọc H; 01(một) thẻ ngân hàng Agribank mang tên Trần Ngọc H; 01 (một) tai nghe Airpod không dây màu trắng có bọc cao su màu đen bên ngoài.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.500.000 đồng của bị cáo Trần Ngọc H để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31 tháng 3 năm 2023 và ủy nhiệm chi ngày 01/5/2023).
3. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm .
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phốThuận An; - Chi cục THADS thành phốThuận An; - Công an thành phốThuận An; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, THAHS, AV; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh Thuỷ |